Chiều ngày 23- 10- 2018, sau khi được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2016 - 2021 và có bài phát biểu trước Quốc Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018
Ô. Nguyễn Phú Trọng tuyên thuệ nhậm chức chủ tịch nước và phát biểu tại Quốc Hội
Chiều ngày 23- 10- 2018, sau khi được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch nước, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã tuyên thệ nhậm chức Chủ tịch nước nhiệm kỳ 2016 - 2021 và có bài phát biểu trước Quốc Hội.
Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018
Cán bộ nhận hỗ trợ 160 triệu để nghỉ việc vì 'không theo nổi 4.0'
Ông Lê Văn Quang nói xin nghỉ hưu sớm vì nhìn nhận cán bộ trẻ được đào tạo bài bản và hội nhập tốt hơn.
Chiều 19/10, 45/48 đại biểu tại kỳ họp HĐND TP Đà Nẵng đã bỏ phiếu miễn nhiễm chức Phó trưởng ban Kinh tế - Ngân sách với ông Lê Văn Quang.
Chia sẻ bên lề kỳ họp, ông Quang cho biết nghỉ việc trước một năm so với tuổi hưu, nhưng tuổi thật của ông đã trên 60.
"Thời chiến tranh làm giấy khai sinh không chính xác, nhưng sau đó theo giấy tờ hồ sơ đi học và đi làm nên tuổi hiện tại của tôi là 59", ông giải thích.
Tự nhận mình "đã lớn tuổi và sức khỏe không còn, tư duy thì 0.4 còn các công chức trẻ bây giờ đã là 4.0" nên ông Quang quyết định nghỉ để nhường chỗ cho cán bộ trẻ phát huy năng lực.
Quê huyện Thăng Bình (Quảng Nam), trình độ đại học chuyên ngành Kinh tế phát triển - ngoại thương, ông Quang cho biết đã làm việc ở HĐND hơn 20 năm nay. "Gần nửa đời người gắn bó với HĐND, tôi chủ động nghỉ việc trước tuổi và cảm thấy thanh thản, chứ không có động cơ gì", ông nói và nhìn nhận so với thế hệ cán bộ được đào tạo từ thời bao cấp như ông thì "lớp trẻ hiện nay có kiến thức bài bản, hội nhập tốt hơn".
Trước khi nghỉ hưu, ông cho biết đã động viên cấp dưới phấn đấu, tích luỹ kinh nghiệm để làm việc tốt hơn.
"Nghỉ việc, tôi được cái riêng, nhưng cũng vì cái chung của thành phố. Cán bộ lớn tuổi mà không nghỉ, cứ bám hoài thì các em lứa 40, 45 tuổi lấy đâu ra vị trí để thi thố tài năng", ông nói thêm.

Ông Lê Văn Quang tại kỳ họp HĐND cuối cùng trên cương vị Phó ban Kinh tế - Ngân sách. Ảnh: Nguyễn Đông.
Là trường hợp đầu tiên được Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng chấp thuận nghỉ việc và được nhận 160 triệu đồng, ông Quang nói mức hỗ trợ này là vừa phải, phù hợp với điều kiện của thành phố cũng như mặt bằng chung của xã hội.
Sau khi nghỉ việc, trong vòng một năm tới ông Quang được nhận lương theo bậc, nhưng không được hưởng các khoản phụ cấp. Ông cũng phải tự đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi.
"Lương không phụ cấp của tôi hiện tại hơn 8 triệu đồng, đóng bảo hiểm hơn 2,5 triệu và thực nhận hàng tháng còn trên 5 triệu đồng", ông nói.
Nguồn: VnE
0
Chiều 19/10, 45/48 đại biểu tại kỳ họp HĐND TP Đà Nẵng đã bỏ phiếu miễn nhiễm chức Phó trưởng ban Kinh tế - Ngân sách với ông Lê Văn Quang.
Chia sẻ bên lề kỳ họp, ông Quang cho biết nghỉ việc trước một năm so với tuổi hưu, nhưng tuổi thật của ông đã trên 60.
"Thời chiến tranh làm giấy khai sinh không chính xác, nhưng sau đó theo giấy tờ hồ sơ đi học và đi làm nên tuổi hiện tại của tôi là 59", ông giải thích.
Tự nhận mình "đã lớn tuổi và sức khỏe không còn, tư duy thì 0.4 còn các công chức trẻ bây giờ đã là 4.0" nên ông Quang quyết định nghỉ để nhường chỗ cho cán bộ trẻ phát huy năng lực.
Quê huyện Thăng Bình (Quảng Nam), trình độ đại học chuyên ngành Kinh tế phát triển - ngoại thương, ông Quang cho biết đã làm việc ở HĐND hơn 20 năm nay. "Gần nửa đời người gắn bó với HĐND, tôi chủ động nghỉ việc trước tuổi và cảm thấy thanh thản, chứ không có động cơ gì", ông nói và nhìn nhận so với thế hệ cán bộ được đào tạo từ thời bao cấp như ông thì "lớp trẻ hiện nay có kiến thức bài bản, hội nhập tốt hơn".
Trước khi nghỉ hưu, ông cho biết đã động viên cấp dưới phấn đấu, tích luỹ kinh nghiệm để làm việc tốt hơn.
"Nghỉ việc, tôi được cái riêng, nhưng cũng vì cái chung của thành phố. Cán bộ lớn tuổi mà không nghỉ, cứ bám hoài thì các em lứa 40, 45 tuổi lấy đâu ra vị trí để thi thố tài năng", ông nói thêm.

Ông Lê Văn Quang tại kỳ họp HĐND cuối cùng trên cương vị Phó ban Kinh tế - Ngân sách. Ảnh: Nguyễn Đông.
Là trường hợp đầu tiên được Thường trực Thành uỷ Đà Nẵng chấp thuận nghỉ việc và được nhận 160 triệu đồng, ông Quang nói mức hỗ trợ này là vừa phải, phù hợp với điều kiện của thành phố cũng như mặt bằng chung của xã hội.
Sau khi nghỉ việc, trong vòng một năm tới ông Quang được nhận lương theo bậc, nhưng không được hưởng các khoản phụ cấp. Ông cũng phải tự đóng bảo hiểm xã hội để được hưởng lương hưu khi đủ 60 tuổi.
"Lương không phụ cấp của tôi hiện tại hơn 8 triệu đồng, đóng bảo hiểm hơn 2,5 triệu và thực nhận hàng tháng còn trên 5 triệu đồng", ông nói.
Chính sách hỗ trợ, khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý tự nguyện thôi việc để bố trí cán bộ được HĐND TP Đà Nẵng khoá IX thông qua tại kỳ họp thứ bảy ngày 12/7/2018.
Độ tuổi áp dụng chính sách là 55 với nam và trên 50 với nữ. Ngoài các mức hỗ trợ được hưởng một lần theo quy định tại Nghị định 46, lãnh đạo thôi việc tùy theo chức danh công tác, sẽ được hỗ trợ thêm từ 100 đến 200 triệu đồng. Kinh phí từ nguồn ngân sách thành phố.
Nguồn: VnE
Thứ Bảy, 13 tháng 10, 2018
Em Để Dành Mùa Xuân, Đợi Anh Về Mới Nở
(FB Doan Quang Minh) - NHỜ CỘNG ĐỒNG MẠNG CHIA SẺ GIÚP!
Năm 1968, hàng trăm trận mưa bom ác liệt trút xuống vùng căn cứ kháng chiến Liên khu 5. Quân địch sau khi bị tổn thất nặng ở thành phố trong trận Tổng tiến công Tết Mậu Thân của quân ta đã trút cơn giận dữ lên những khu rừng đại ngàn của Trường Sơn.
Trong số những người ngã xuống sau trận mưa bom, có một chiến sĩ không ai biết tên tuổi, quê quán của anh. Chỉ biết trong túi áo anh có một tấm ảnh nhỏ cỡ 6x9. Ảnh tô màu khá đẹp. Người trong ảnh là một nữ công nhân, mặc sơmi trắng, quần yếm xanh, tay cầm chiếc thoi dệt vải. Mặt sau của ảnh có bài thơ chép tay: "Đợi Anh về”
Đây là thông tin được Cựu chiến binh Đặng Minh Phương, người lưu giữ bức ảnh này cung cấp. Nhiều năm qua, ông vẫn đau đáu với ước mong tìm lại người trong ảnh và gia đình liệt sĩ nhưng vẫn chưa thể thực hiện được. Sau này, kỷ vật được trao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Ngày hôm qua, Thượng tá Trần Thanh Hằng, cán bộ nghỉ hưu của Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN đã chia sẻ và mong muốn của bà cũng như nhiều cán bộ đang công tác tại bảo tàng là tìm được hoặc có thông tin về người phụ nữ trong ảnh, từ đó hy vọng sẽ xác định được tên, tuổi, quê quán của liệt sĩ và tìm về với gia đình của anh...
Nguồn: https://www.facebook.com/hashtag/ng%C6%B0%E1%BB%9Di_s%C3%A0i_g%C3%B2n?source=feed_text
0
Năm 1968, hàng trăm trận mưa bom ác liệt trút xuống vùng căn cứ kháng chiến Liên khu 5. Quân địch sau khi bị tổn thất nặng ở thành phố trong trận Tổng tiến công Tết Mậu Thân của quân ta đã trút cơn giận dữ lên những khu rừng đại ngàn của Trường Sơn.
Trong số những người ngã xuống sau trận mưa bom, có một chiến sĩ không ai biết tên tuổi, quê quán của anh. Chỉ biết trong túi áo anh có một tấm ảnh nhỏ cỡ 6x9. Ảnh tô màu khá đẹp. Người trong ảnh là một nữ công nhân, mặc sơmi trắng, quần yếm xanh, tay cầm chiếc thoi dệt vải. Mặt sau của ảnh có bài thơ chép tay: "Đợi Anh về”
Đây là thông tin được Cựu chiến binh Đặng Minh Phương, người lưu giữ bức ảnh này cung cấp. Nhiều năm qua, ông vẫn đau đáu với ước mong tìm lại người trong ảnh và gia đình liệt sĩ nhưng vẫn chưa thể thực hiện được. Sau này, kỷ vật được trao lại cho Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.
Ngày hôm qua, Thượng tá Trần Thanh Hằng, cán bộ nghỉ hưu của Bảo tàng Lịch sử Quân sự VN đã chia sẻ và mong muốn của bà cũng như nhiều cán bộ đang công tác tại bảo tàng là tìm được hoặc có thông tin về người phụ nữ trong ảnh, từ đó hy vọng sẽ xác định được tên, tuổi, quê quán của liệt sĩ và tìm về với gia đình của anh...
Nguồn: https://www.facebook.com/hashtag/ng%C6%B0%E1%BB%9Di_s%C3%A0i_g%C3%B2n?source=feed_text
Thứ Tư, 3 tháng 10, 2018
Bài nói chuyện tiêu biểu về người Việt chống Cộng ở hải ngoại những năm 2010- 2019
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (sinh năm 1979 tại Khánh Hòa, Việt Nam), được biết nhiều với biệt danh Mẹ Nấm, là một người viết blog, hoạt động xã hội và là người bất đồng chính kiến tại Việt Nam.
Bài nói chuyện dưới đây của nhà báo Trần Nhật Phong cho biết vì sao blogger Mẹ Nấm chỉ là một cái cần câu để kiếm tiền.
* Link xem:
1. https://drive.google.com/file/d/115gf-yNc6Wg2MFn3m7aNyVwSAwLsQpvB/view
2. https://www.youtube.com/watch?v=I70MD00Xndo&t=1562s
0
Bài nói chuyện dưới đây của nhà báo Trần Nhật Phong cho biết vì sao blogger Mẹ Nấm chỉ là một cái cần câu để kiếm tiền.
* Link xem:
1. https://drive.google.com/file/d/115gf-yNc6Wg2MFn3m7aNyVwSAwLsQpvB/view
2. https://www.youtube.com/watch?v=I70MD00Xndo&t=1562s
Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2018
VNDCCH đã công nhận VNCH từ 1973 như thế nào ?
Gần đây, có sự tranh cãi xung quanh việc VNDCCH (nay là CHXHCN Việt Nam) đã công nhận VNCH hay chưa. Phía chống cộng hải ngoại thì hả hê về phát ngôn của một số giới chức và cựu giới chức Việt Nam về việc thừa nhận quyền quản lý hợp pháp của VNCH với Trường Sa, Hoàng Sa khi Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam năm 1974 và họ suy diễn rằng VNCH là một chính phủ hợp pháp, vì thế, Chiến dịch Mùa Xuân 1975 là “xâm lược” MNVN.
Ngược lại, những người tự nhận là “cờ đỏ” thì lại ko tiếc lời lăng mạ những người đã nói ra những thông tin đó và cho rằng họ đã “bênh” nguỵ quân, nguỵ quyền.
Vậy sự thật là như thế nào?
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là chỉ có một Quốc gia Việt Nam và chỉ duy nhất Chính phủ VNDCCH là chính phủ hợp pháp, hợp lòng dân, đại diện cho Dân tộc Việt Nam, Qốc gia Việt Nam chống lại thực dân và đế quốc. Trong đó, Pháp là đại diện cho chế độ thực dân kiểu cũ còn Mỹ là đại diện cho chủ nghĩa thực dân kiểu mới, hay còn gọi là chủ nghĩa can thiệp. Các chính phủ “Quốc gia Việt Nam” hay “Việt Nam Cộng hoà” đều chỉ là những con rối, những kẻ tay sai được dựng lên để hợp thức hoá hành động xâm lược và cai trị Việt Nam ta nói chung cũng như MNVN nói riêng. Tuy nhiên, trong bối cảnh người Mỹ đã buộc phải ngồi vào bàn đàm phán để rút quân khỏi MNVN, chính phủ VNCH đang hiện hữu cũng cần phải tham dự hội nghị Paris để đảm bảo hiệp định (sau này) được công nhận và thực thi (tránh lặp lại việc Quốc gia Việt Nam mà thừa kế là Việt Nam Cộng hoà đã từ chối thực hiện Hiệp định Geneva 1954 vì họ không ký Hiệp định). Để cân bằng lực lượng, VNDCCH đã yêu cầu hội nghị Paris phải có sự tham dự của MTDTGP MNVN và phía Mỹ và VNCH phải công nhận chính thức Chính phủ của họ (Chính phủ CH MNVN). Sau rất nhiều tranh cãi, cuối cùng cả VNCH và CP CHMNVN đều đã được chính thức công nhận tại Hội nghị Paris. Đây là sự thật lịch sử và không có gì phải tranh cãi thêm.
Tuy nhiên, trong Luật Quốc tế thì có 2 thể loại công nhận chính thức là Công nhận de facto (sự tồn tại thực tế) và Công nhận de jure (phù hợp với pháp luật). Hành vi công nhận của VNDCCH với VNCH tại Hội nghị Paris và trong việc thực thi Hiệp định Paris 1973 là Công nhận de facto chứ không phải là Công nhận de jure. Nghĩa là, chúng ta thừa nhận VNCH là một thực thể tồn tại trên thực tế và đang quản lý một phần lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận dân cư Việt Nam nhưng đây không phải là một chính phủ hợp pháp và không phải là người đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ sự thật lịch sử này, chúng ta phủ nhận luận điểm của những người chống cộng hải ngoại rằng VNCH là một quốc gia độc lập và rằng VNDCCH xâm lược VNCH. Đây là luận điệu bịp bợm và xảo trá của đám người đã đang tâm bán nước giờ lại muốn vực dậy hồn ma VNCH. Thế nhưng, đáng buồn là một bộ phận không nhỏ những bạn trẻ yêu nước, mang danh cờ đỏ đã không đủ hiểu biết và bị “dính bả” của đám chống cộng, khi phản bác luận điểm của họ lại phản bác không đúng trọng điểm, phủ nhận sạch trơn diễn biến lịch sử, nói rằng VNDCCH không công nhận VNCH. Như thế cũng là không đúng và hơn thế nữa đã trách oan những người như Tiến sỹ Trần Công Trục. Với tư cách là một đảng viên lâu năm, nguyên là Trưởng ban Biên giới Chính phủ (trong đó một bộ phận quan trọng là Biên giới biển), Tiến sỹ Trần Công Trục không thể không biết rõ những gì đã và đang diễn ra, ông ta càng không được phép xuyên tạc lịch sử, nhất là khi các tuyên bố của ông ta được đăng công khai và rộng rãi trên báo chính thống. Cái sai là sự hiểu lầm, suy diễn và đặc biệt là sự xuyên tạc của đám chống cộng hải ngoại và dân chủ cuội trong nước.
Nay, tôi xin đính chính và xác nhận những thông tin sau đây:
1. VNCH và CH MNVN đã được công nhận tại Hội nghị Paris cũng như trong quá trình thực thi Hiệp định Paris 1973. Tuy nhiên, VNDCCH chỉ công nhận de facto (trên thực tế) với VNCH chứ không công nhận de jure (phù hợp với pháp luật). Vì thế, hành vi công nhận này không thể là căn cứ để nói “VNCH là một quốc gia độc lập” và càng không thể là căn cứ để kết luận “VNDCCH xâm lược VNCH”. Sự thực, chỉ có một nước Việt Nam và Dân tộc Việt Nam đã kiên trì đấu tranh hơn 20 năm (1954-1975) bằng cả chính trị, quân sự và ngoại giao để thống nhất đất nước. Ngày chúng ta giành toàn thắng về quân sự là 30/4/1975 nhưng ngày chúng ta thống nhất đất nước về chính trị và ngoại giao lại là ngày 25/4/1976 khi toàn dân bầu ra Quốc hội chung của cả 2 miền Nam – Bắc;
2. VNCH là chính phủ có quyền quản lý Trường Sa và Hoàng Sa từ 1955 đến 1975. Trước đó, VNCH kế thừa từ Quốc gia Việt Nam, sau 30/4/1975, CP CMLT MNVN kế thừa các quần đảo này từ tay VNCH, đến 25/4/1976, CH XHCN Việt Nam lại kế thừa chúng từ tay CP CMLT MNVN. Đây là các căn cứ quan trọng để chứng minh chủ quyền của Việt Nam với Trường Sa và Hoàng Sa là liên tục và không ngắt quãng. Không thể vì QGVN hay VNCH không còn tồn tại để phủ nhận chủ quyền của Việt Nam với các quần đảo này (luận điệu xuyên tạc của Trung Quốc);
3. Chúng ta luôn phản đối những người xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử. Nhưng cần trang bị những kiến thức đầy đủ khi luận bàn về một vấn đề nào đó, nhất là những chuyên môn sâu và phức tạp như quan hệ quốc tế, biên giới lãnh thổ, tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biển giữa các quốc gia… Chính vì quá nhiệt tình mà thiếu kiến thức chuyên ngành mà nhiều người đã trách oan các chuyên gia đáng kính của chúng ta. Trong đó, Tiến sỹ Trần Công Trục là một điển hình.
Nguồn: https://thienhasu2018.com/2018/09/28/vndcch-da-cong-nhan-vnch/
0
Ngược lại, những người tự nhận là “cờ đỏ” thì lại ko tiếc lời lăng mạ những người đã nói ra những thông tin đó và cho rằng họ đã “bênh” nguỵ quân, nguỵ quyền.
Vậy sự thật là như thế nào?
Quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là chỉ có một Quốc gia Việt Nam và chỉ duy nhất Chính phủ VNDCCH là chính phủ hợp pháp, hợp lòng dân, đại diện cho Dân tộc Việt Nam, Qốc gia Việt Nam chống lại thực dân và đế quốc. Trong đó, Pháp là đại diện cho chế độ thực dân kiểu cũ còn Mỹ là đại diện cho chủ nghĩa thực dân kiểu mới, hay còn gọi là chủ nghĩa can thiệp. Các chính phủ “Quốc gia Việt Nam” hay “Việt Nam Cộng hoà” đều chỉ là những con rối, những kẻ tay sai được dựng lên để hợp thức hoá hành động xâm lược và cai trị Việt Nam ta nói chung cũng như MNVN nói riêng. Tuy nhiên, trong bối cảnh người Mỹ đã buộc phải ngồi vào bàn đàm phán để rút quân khỏi MNVN, chính phủ VNCH đang hiện hữu cũng cần phải tham dự hội nghị Paris để đảm bảo hiệp định (sau này) được công nhận và thực thi (tránh lặp lại việc Quốc gia Việt Nam mà thừa kế là Việt Nam Cộng hoà đã từ chối thực hiện Hiệp định Geneva 1954 vì họ không ký Hiệp định). Để cân bằng lực lượng, VNDCCH đã yêu cầu hội nghị Paris phải có sự tham dự của MTDTGP MNVN và phía Mỹ và VNCH phải công nhận chính thức Chính phủ của họ (Chính phủ CH MNVN). Sau rất nhiều tranh cãi, cuối cùng cả VNCH và CP CHMNVN đều đã được chính thức công nhận tại Hội nghị Paris. Đây là sự thật lịch sử và không có gì phải tranh cãi thêm.
Tuy nhiên, trong Luật Quốc tế thì có 2 thể loại công nhận chính thức là Công nhận de facto (sự tồn tại thực tế) và Công nhận de jure (phù hợp với pháp luật). Hành vi công nhận của VNDCCH với VNCH tại Hội nghị Paris và trong việc thực thi Hiệp định Paris 1973 là Công nhận de facto chứ không phải là Công nhận de jure. Nghĩa là, chúng ta thừa nhận VNCH là một thực thể tồn tại trên thực tế và đang quản lý một phần lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận dân cư Việt Nam nhưng đây không phải là một chính phủ hợp pháp và không phải là người đại diện hợp pháp của nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.
Từ sự thật lịch sử này, chúng ta phủ nhận luận điểm của những người chống cộng hải ngoại rằng VNCH là một quốc gia độc lập và rằng VNDCCH xâm lược VNCH. Đây là luận điệu bịp bợm và xảo trá của đám người đã đang tâm bán nước giờ lại muốn vực dậy hồn ma VNCH. Thế nhưng, đáng buồn là một bộ phận không nhỏ những bạn trẻ yêu nước, mang danh cờ đỏ đã không đủ hiểu biết và bị “dính bả” của đám chống cộng, khi phản bác luận điểm của họ lại phản bác không đúng trọng điểm, phủ nhận sạch trơn diễn biến lịch sử, nói rằng VNDCCH không công nhận VNCH. Như thế cũng là không đúng và hơn thế nữa đã trách oan những người như Tiến sỹ Trần Công Trục. Với tư cách là một đảng viên lâu năm, nguyên là Trưởng ban Biên giới Chính phủ (trong đó một bộ phận quan trọng là Biên giới biển), Tiến sỹ Trần Công Trục không thể không biết rõ những gì đã và đang diễn ra, ông ta càng không được phép xuyên tạc lịch sử, nhất là khi các tuyên bố của ông ta được đăng công khai và rộng rãi trên báo chính thống. Cái sai là sự hiểu lầm, suy diễn và đặc biệt là sự xuyên tạc của đám chống cộng hải ngoại và dân chủ cuội trong nước.
Nay, tôi xin đính chính và xác nhận những thông tin sau đây:
1. VNCH và CH MNVN đã được công nhận tại Hội nghị Paris cũng như trong quá trình thực thi Hiệp định Paris 1973. Tuy nhiên, VNDCCH chỉ công nhận de facto (trên thực tế) với VNCH chứ không công nhận de jure (phù hợp với pháp luật). Vì thế, hành vi công nhận này không thể là căn cứ để nói “VNCH là một quốc gia độc lập” và càng không thể là căn cứ để kết luận “VNDCCH xâm lược VNCH”. Sự thực, chỉ có một nước Việt Nam và Dân tộc Việt Nam đã kiên trì đấu tranh hơn 20 năm (1954-1975) bằng cả chính trị, quân sự và ngoại giao để thống nhất đất nước. Ngày chúng ta giành toàn thắng về quân sự là 30/4/1975 nhưng ngày chúng ta thống nhất đất nước về chính trị và ngoại giao lại là ngày 25/4/1976 khi toàn dân bầu ra Quốc hội chung của cả 2 miền Nam – Bắc;
2. VNCH là chính phủ có quyền quản lý Trường Sa và Hoàng Sa từ 1955 đến 1975. Trước đó, VNCH kế thừa từ Quốc gia Việt Nam, sau 30/4/1975, CP CMLT MNVN kế thừa các quần đảo này từ tay VNCH, đến 25/4/1976, CH XHCN Việt Nam lại kế thừa chúng từ tay CP CMLT MNVN. Đây là các căn cứ quan trọng để chứng minh chủ quyền của Việt Nam với Trường Sa và Hoàng Sa là liên tục và không ngắt quãng. Không thể vì QGVN hay VNCH không còn tồn tại để phủ nhận chủ quyền của Việt Nam với các quần đảo này (luận điệu xuyên tạc của Trung Quốc);
3. Chúng ta luôn phản đối những người xuyên tạc lịch sử, xét lại lịch sử. Nhưng cần trang bị những kiến thức đầy đủ khi luận bàn về một vấn đề nào đó, nhất là những chuyên môn sâu và phức tạp như quan hệ quốc tế, biên giới lãnh thổ, tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp biển giữa các quốc gia… Chính vì quá nhiệt tình mà thiếu kiến thức chuyên ngành mà nhiều người đã trách oan các chuyên gia đáng kính của chúng ta. Trong đó, Tiến sỹ Trần Công Trục là một điển hình.
Nguồn: https://thienhasu2018.com/2018/09/28/vndcch-da-cong-nhan-vnch/
Thứ Bảy, 25 tháng 8, 2018
Đặc khu- nên làm hay không nên làm?
"Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác.
Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ" (Vũ Ngọc Hoàng)
KD (kimdunghn.wordpress.com/): Ts Vũ Ngọc Hoàng, nguyên Phó Ban Tuyên giáo TƯ vừa gửi cho Blog bài viết này. Một bài viết chủ đề nhạy cảm- Đặc khu kinh tế- với những phân tích thấu đáo về những được mất, thành bại, nên và không nên làm xung quanh chủ đề đặc khu kinh tế. Xin trân trọng đăng lên Blog để bạn đọc chia sẻ. Các tiêu đề nhỏ, chủ Blog xin đặt để bạn đọc dễ theo dõi.
Đặc khu- thành công và thất bại
Chuyện đặc khu kinh tế đã bàn từ lâu, hàng chục và hàng trăm năm trước, tại nhiều nước trên thế giới và kể cả ở nước ta. Thế giới đã có hàng nghìn đặc khu kinh tế ở hơn một trăm nước. Một số đặc khu thành công, số lớn hơn thì không thành công hoặc thất bại. Họ tổ chức bao gồm 2 loại hình: Loại thứ nhất, có đơn vị hành chính riêng (của một khu). Loại thứ hai, không có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ là cho áp dụng cơ chế đặc biệt trên một vùng lãnh thổ nhất định (khác với cả nước ở bên ngoài đặc khu) tại địa điểm cụ thể nào đó. Loại thứ nhất số lượng rất ít nhưng thường mạnh mẽ hơn về cơ chế chính sách và quyền tự chủ, nhiều nơi gần giống như “khu tự trị” về kinh tế; loại thứ hai nhiều hơn, phổ biến hơn.
Ở nước ta hàng trăm năm trước đã từng có các đặc khu kinh tế. Phố Hiến ngày trước cũng là một kiểu đặc khu. Tại Hội An, cách đây khoảng 4 thế kỷ, chúa Nguyễn đã từng tổ chức một đặc khu kinh tế, và đã rất thành công tại đó vào lúc ấy. Với đặc khu kinh tế Hội An, gắn với một thương cảng quốc tế Cửa Đại sầm uất-một trung tâm giao lưu buôn bán của khu vực, nơi đây đã trở thành trung tâm kinh tế của Xứ Đàng Trong. Trung tâm kinh tế này đã đóng góp rất quan trọng về nguồn tài chính và hậu cần cho công cuộc khai khẩn hòa bình khi cư dân Đại Việt tiến dần về phương Nam để mở mang bờ cỏi và nhân đôi nước Việt.
Cách đây hơn 25 năm, giai đoạn đầu của đổi mới, lãnh đạo nước ta đã có chủ trương cho nghiên cứu để xây dựng một vài đặc khu kinh tế. Sau đó, khi triển khai, thì Bộ Chính trị và Chính phủ lúc đó chỉ đạo cho làm trước một khu Kinh tế mở Chu Lai (không gọi đặc khu nữa). Lúc đó được hiểu là chỉ cho cơ chế thoáng mở để thu hút đầu tư phát triển, chứ không lập đơn vị hành chánh riêng theo kiểu gần như “khu tự trị” vì xét thấy không cần thiết phải như thế, do vậy không gọi là đặc khu kinh tế, mà chỉ là khu kinh tế mở. Như vậy, theo cách hiểu phổ biến của thế giới, thì Khu Kinh tế mở Chu Lai cũng là một kiểu đặc khu theo mô hình thứ hai-không có đơn vị hành chánh riêng.
Sau 15 năm thành lập, Khu kinh tế mở này mặc dù đã có một số thành công đáng kể, bắt đầu tạo ra một số ngành công nghiệp và tham gia phát triển du lịch, tạo việc làm trực tiếp cho mấy vạn lao động, trong đó có một bộ phận lao động kỹ thuật có tay nghề cao, góp phần quan trọng nhất để tăng thu ngân sách của tỉnh Quảng Nam lên gấp 150 lần so với 20 năm trước, từ một trong hai tỉnh nghèo nhất cả nước về thu ngân sách, hằng năm trung ương phải thường xuyên trợ cấp hầu hết ngân sách, đã trở thành một trong số các tỉnh tự cân đối được ngân sách và có đóng góp một phần về ngân sách trung ương. Tuy nhiên so với ý định và mục tiêu ban đầu nêu ra thì có thể khẳng định rằng Khu kinh tế mở Chu Lai chưa thành công. Đáng lẽ trước khi bàn về đặc khu kinh tế thì cần tổng kết lại câu chuyện về Khu Kinh tế mở Chu Lai, xem thử thành công và thất bại ở điểm nào, vì sao ngày ấy không làm đặc khu mặc dù trước đó đã có nghị quyết.
Nhà nước của dân phải biết lắng nghe dân
Trong kỳ họp Quốc hội gần đây có bàn dự luật về 3 đặc khu kinh tế theo loại hình thứ nhất-có đơn vị hành chánh riêng (tại Vân Đồn, Phú Quốc và Bắc Vân Phong). Khi biết nội dung của dự luật thì dư luận trong cả nước đã có nhiều ý kiến phản đối. Và khi nghe thông tin về ý kiến của Chính phủ và Quốc hội cho tạm dừng, chưa thông qua trong kỳ họp vừa rồi, để thảo luận kỹ thêm về dự thảo luật đặc khu, cán bộ, nhân dân đã có nhiều ý kiến đánh giá cao thái độ và tinh thần cầu thị đó của lãnh đạo.
Nhà nước của dân phải luôn biết lắng nghe ý kiến của dân, kể cả trước và sau khi thông qua quyết định. Phản biện khoa học và thảo luận bình đẳng là con đường tiếp cận chân lý mà không có gì có thể thay thế trong khoa học xã hội. Trường hợp vừa rồi là cách tốt cần được phát huy đối với nhiều việc khác. Từ xưa đến nay, kể cả lịch sử tất cả các triều đại, khi nào lãnh đạo đất nước thật sự cầu thị lắng nghe dân thì lòng dân tin tưởng và hướng về triều đình, lúc ấy dân tộc có sức mạnh gấp bội để giữ nước và kiến thiết quốc gia. Còn khi nào triều đình quan liêu, xa dân, không biết lắng nghe mà còn đối phó với nhân dân, thì lòng dân ly tán, sức mạnh quốc gia suy yếu, đến lúc nghiêm trọng thì kẻ thù từ bên ngoài lợi dụng cơ hội ấy để tấn công, đất nước không đứng vững trước hiểm nguy và triều đình suy vong, sụp đổ. Việc lãnh đạo thật sự cầu thị, lắng nghe dân là tín hiệu tốt đẹp.
Có người cho rằng nếu cứ đưa ra dự luật mà Quốc hội không thông qua thì mất uy Bộ Chính trị và Chính phủ. Tư duy kiểu ấy chắc chắn là sai. Quan điểm của Đảng là xây dựng nhà nước của dân, (chứ không phải của Đảng); Đảng lãnh đạo bằng thuyết phục, nói rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của vấn đề, bằng phát huy dân chủ, chứ không phải áp đặt mất dân chủ. Dùng quyền lực để áp đặt không phải là lãnh đạo theo đúng nghĩa khoa học và chân chính của nó. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, một nhà nước của dân, phải đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực chất chứ không phải hình thức, không phải là khẩu hiệu mị dân.
Đảng mong muốn Quốc hội là một tập thể có trách nhiệm với nhân dân, trung thành với nhân dân, và có năng lực tư duy độc lập, chứ không phải là cơ quan thụ động, hình thức. Một bộ luật được thông qua hay không thông qua là do sự cần thiết, chất lượng chuẩn bị hoặc còn nhiều ý kiến khác nhau, và đó là việc rất bình thường, như lẽ tự nhiên, thể hiện chính kiến của Quốc hội. Uy tín của Chính phủ và Quốc hội trong việc đề ra chủ trương và xây dựng luật chỉ có thể được tăng lên khi nâng cao được chất lượng và hiệu quả của các quyết định và nhất là biết lắng nghe dân, thấy sai thì tiếp thu và sửa chữa một cách nghiêm túc và cầu thị. Xử sự như trường hợp vừa rồi là đúng.
Vừa qua, cán bộ đảng viên và nhân dân, nhất là trí thức Việt Nam trong và ngoài nước, đã có rất nhiều ý kiến đóng góp tích cực và xây dựng, rất đáng hoan nghênh và khuyến khích. Cần phải như thế trong trách nhiệm và tâm huyết đối với quốc gia. Bên cạnh đó cũng có một số ý kiến phê phán nặng nề, suy diễn và quy chụp về động cơ làm đặc khu, cứ như thể chỉ có mình mới biết yêu nước. Trước sự trì trệ trong công việc, những suy nghĩ về đổi mới để phát triển đều cần được khuyến khích và lắng nghe. Những đề xuất đưa ra chắc sẽ có cái đúng và chưa đúng hoặc sai. Nếu cứ suy diễn và quy chụp thì ai còn dám đổi mới. Nào là có động cơ đen tối, bán nước, chệch hướng, chống đối, phản động…Cái bệnh hay quy chụp lẫn nhau là một tội đồ kìm hảm tư duy của dân tộc. Cần phải biết lắng nghe nhau một cách cầu thị và biết tôn trọng những ý kiến khác mình.
Hiện nay chuyện đặc khu không còn nóng hổi và thời sự như thời kỳ 30-40 năm trước, vì tình hình đã khác, đã không như lúc đó. Nhưng nói vậy cũng không có nghĩa là nhất thiết không được xây dựng đặc khu kinh tế. Vẫn có thể xây dựng đặc khu, nhưng nếu cần làm thì phải có cách tiếp cận khác, cách tiếp cận mới, chứ không phải như vừa rồi. Phải bảo đảm chắc chắn về hiệu quả kinh tế-xã hội và quốc phòng-an ninh cho đất nước. Nếu thấy không chắc chắn thì không làm, bởi vì không để làm gì. Bản thân việc xây dựng đặc khu kinh tế là một cách làm, nhằm bảo đảm hiệu quả, chứ không phải là một mục đích tự thân hay một nguyên tắc nhất thiết phải làm cho bằng được hoặc tuyệt đối không được làm.
Đặc khu- nên làm hay không nên làm?
Đặc khu là một khu vực đặc biệt. Xuất phát từ nhiệm vụ đặc biệt và được áp dụng cơ chế đặc biệt. Dự định xây dựng đặc khu để làm gì, nói cách khác, nhiệm vụ đặc biệt ở đây là gì? Phải chăng có 2 mục tiêu chính: Thứ 1, là để thử nghiệm cơ chế, thể chế, chính sách cho việc quản trị một nền kinh tế hiện đại; thứ 2, là để tạo ra đột phá trên thực tế nhằm hình thành một khu phát triển động lực với một số ngành nghề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế nước nhà, có hiệu quả cao về tài chính, và từ đó mà lan tỏa, thúc đẩy cả vùng phát triển theo. Đối với mục tiêu thứ 1 thì chưa thấy rõ trong dự thảo định thử nghiệm cơ chế, thể chế gì? Và để đạt mục tiêu đó thì cách làm là cần đưa ra thảo luận rộng rãi, nhiều lần, để huy động chất xám, nâng cao hàm lượng trí tuệ và từ đó mà tạo ra nhận thức chung về cách quản trị đối với nền kinh tế hiện đại. Bản thân việc thảo luận ấy nếu biết tổ chức tốt thì nó đã tạo ra sản phẩm về nhận thức.
Đối với mục tiêu thứ 2, để tạo ra một khu phát triển thì rất cần làm rõ xem thử khu ấy là khu gì, ưu tiên cho cái gì (ngành nghề gì, sản phẩm gì) ở đó, và chắc chắn không thể ưu tiên tràn lan cho mọi thứ. Trong một đặc khu chỉ nên ưu tiên cho vài thứ ngành nghề quan trọng nhất theo chủ định của ta, có trọng tâm rõ ràng, còn các thứ khác thì phát triển bình thường như bên ngoài đặc khu, theo cơ chế chung như cả nước. Ví dụ du lịch, khách sạn, thương mại, casino, kinh doanh bất động sản, nhà hàng ăn uống, các nhà máy với công nghệ trung bình…thì có thể phát triển bình thường, không cần thiết phải tạo đặc khu. Người ta tạo đặc khu cũng là để rút kinh nghiệm rồi sau này hòa chung với cả nước mà nhân lên sự phát triển, chứ đâu phải để tạo ra một sự tách biệt nào trên lãnh thổ thống nhất. Còn những thứ xét thấy rất quan trọng, ví dụ như một hệ thống công nghiệp công nghệ cao nằm trong chuổi giá trị toàn cầu, hay một trung tâm tài chính quốc tế, một cảng trung chuyển hàng hải hay trung chuyển hàng không quốc tế…hay cái gì đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế VN thì mới cần khuyến khích nhiều, tức là mới thuộc đối tượng ưu tiên theo kiểu đặc khu. Các ưu đãi cần thực hiện theo hướng ưu tiên cái gì (ngành gì) chứ không phải ưu tiên tràn lan cho tất cả những thứ gì có trong địa bàn, không gian của đặc khu đó. Bản thân hình thức đặc khu đã là xuất phát từ tư duy không tràn lan.
Cũng có ý kiến rằng, vì nước ta còn thiếu vốn, làm đặc khu để thu hút thêm vốn đầu tư nước ngoài. Việc đó cũng cần, nhưng chỉ là yêu cầu kết hợp chứ không phải là chính, vì nếu chỉ để thu hút đầu tư thì thực hiện trên cả nước chứ không nhất thiết phải đặc khu, mặt khác, độ mở của nền kinh tế VN đối với đầu tư nước ngoài đã khá lớn, thậm chí có một số mặt cần phải chấn chỉnh lại. Cái quan trọng hơn là phải mở cho nội lực phát triển. Mục tiêu cuối cùng là sự phát triển của chủ nhân đất nước (tức là nhân dân) chứ không phải cho ai khác.
Sau khi lựa chọn hướng phát triển, tức là xác định cụ thể cho rõ nhiệm vụ đặc biệt là gì, căn cứ vào đó để mà chọn địa điểm xây dựng đặc khu, cụ thể hiện nay là căn cứ vào đó mà xem xét lại địa điểm có phù hợp không? Nếu địa điểm không phù hợp với nội dung phát triển thì phải chọn lại địa điểm cho phù hợp.
Đây là công việc phải rất khách quan, khoa học, chứ không phải “đẽo chân” cho vừa giày. Không phải địa điểm quyết định nội dung phát triển đặc khu, mà nội dung cần phát triển sẽ quy định việc chọn địa điểm, vì nó xuất phát từ yêu cầu cốt lõi của nội tại nền kinh tế nước nhà. Theo đó, có thể dễ nhìn thấy là khu vực Vân Phong nhằm để phát triển một cảng trung chuyển hàng hải quốc tế. Nếu có Cảng trung chuyển quốc tế tại Vân Phong thì sẽ rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế của VN, chi phí vận chuyển hàng hải đi quốc tế sẽ giảm, gắn nền sản xuất hàng hóa của nước ta với thị trường thế giới, tạo thêm thế và lực để Việt Nam đồng hành cùng các quốc gia lân cận khác theo tinh thần “cần thiết” cho nhau, “tùy thuộc” lẫn nhau; đồng thời cũng là một kiểu “quốc tế hóa” Biển Đông, huy động sức mạnh tổng hợp của quốc tế để bảo đảm tự do hàng hải ở biển đông gắn với bảo vệ chủ quyền của VN ở khu vực này.
Đối tác chiến lược để làm cảng trung chuyển hàng hải quốc tế có thể tìm chọn của một nước phát triển ở phương tây đã có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực này, nhất là hàng hải vượt đại dương xa. Cũng có ý kiến cho rằng, để phát triển cảng trung chuyển thì cũng không cần đặc khu? Việc này phải luận chứng, nếu không cần đặc khu theo kiểu có đơn vị hành chánh riêng mà chỉ cần cho cơ chế vẫn làm được cảng trung chuyển thì không cần phải làm đặc khu. Mục đích chính ở đây là một cảng trung chuyển quốc tế chứ không phải là một đặc khu. Cũng có ý kiến rằng, lấy đâu ra hàng hóa mà làm cảng trung chuyển quốc tế, trong khi ở gần ta đã có Hồng-Kông, Singapor…?
Tôi thì nghĩ khác, việc sản xuất hàng hóa ở nước ta và khu vực gần ta sẽ còn phát triển nhiều chứ không thể chỉ dừng lại như hiện nay mãi; mặt khác, có con đường vận tải nào thuận lợi hơn thì người ta sẽ chọn để đi và nó sẽ tác động kích thích sản xuất hàng hóa nhiều hơn cho khu vực lân cận. Việc nghiên cứu thị trường, tổ chức thị trường thì nhà đầu tư đương nhiên sẽ tính kỹ và cụ thể hơn. Chính phủ chọn hướng đi là trên cơ sở của nhu cầu và lợi thế so sánh về phát triển cảng biển nước sâu ở Vân Phong.
Còn Vân Đồn và Phú Quốc, nếu đúng lợi thế lớn nhất là du lịch và không có lợi thế khác để phát triển nội dung nào quan trọng hơn đối với nền kinh tế nước nhà thì cũng nên xem xét lại vấn đề địa điểm ở đây thử có cần làm đặc khu tại đó hay không? Du lịch thì cứ phát triển mạnh trên cả nước và không cần đặc khu. Còn nơi nào định làm cảng trung chuyển quốc tế hoặc các thứ công nghiệp công nghệ cao thì du lịch không thể đứng chung trong một không gian với các nội dung đó. Đối với công nghệ cao và trung tâm tài chính quốc tế như đã nêu ví dụ ở phần trên, thì nó thường thích hợp hơn với các địa điểm không cách xa các đô thị trung tâm.
Mà công nghệ cao thì đã có một số khu ở cả bắc trung nam, thậm chí đã 20 năm rồi nhưng chưa thành công, trước mắt cần phải xem xét lại cho kỹ về nguyên nhân, cách làm, xem vì sao mà chưa thành công, điều chỉnh và bổ sung giải pháp để bảo đảm cho các khu ấy thành công, đồng thời có thể phát triển thêm các khu công nghiệp công nghệ cao khác mà không cần đặc khu. Riêng đối với trung tâm tài chính quốc tế thì quan trọng nhất là các cơ chế liên quan đến vận hành, đến sự duy chuyển của các dòng tài chính, tiền tệ quốc tế, các loại tiền và công cụ tài chính, hệ thống tài khoản, sự minh bạch về tài chính….(trong dự thảo ít nói chuyện này). Đúng ra phải làm rõ nội dung cần phát triển trước khi chính thức quyết định địa điểm.
Cần chú ý mục tiêu quốc phòng và chủ quyền quản lý lãnh thổ
Người viết bài này chưa được rõ các căn cứ khi lựa chọn địa điểm như các phương án đã nêu ra! Mà nếu cần làm đặc khu thì cũng không nên đưa việc lựa chọn địa điểm cụ thể vào trong luật. Dự luật chỉ cần làm rõ các nguyên tắc, tiêu chí về mục tiêu, yêu cầu, nội dung phát triển và cơ chế chính sách lớn, chế tài xử lý đối với việc làm sai, vi phạm. Còn lựa chọn địa điểm ở đâu thì luận chứng rõ ràng trong từng dự án, và đó là loại dự án cần đưa ra cho quốc hội phê chuẩn sau khi đã lựa chọn kỹ lưỡng đối tác chiến lược. Với vị trí địa chính trị và trong tình hình cụ thể ở khu vực như ta đã biết, việc lựa chọn địa điểm cần đặc biệt chú ý mục tiêu quốc phòng về lâu dài, đề phòng cảnh giác đối với âm mưu thâm hiểm của thế lực muốn tìm cách xâm lăng nước ta.
Bản thân đặc khu, sau một thời gian, phải đem lại hiệu quả cao về tài chính cho đất nước, chứ không phải là nơi tiêu hao ngân sách. Các chính sách ưu đãi về thuế nói chung không kém hấp dẫn so với các đặc khu đã có trong khu vực, nhưng không nhất thiết phải vượt trội so với thiên hạ. Cần quan tâm hơn về cải cách hành chánh, cơ chế quản lý thoáng mở, thủ tục không rườm rà, giảm tối đa thời gian làm thủ tục, bảo đảm sự minh bạch, không có phí tiêu cực. Lấy đó làm hướng chính thay cho việc miễn giảm thuế. Sự miễn giảm thuế không nằm ngoài việc hướng đến tạo nguồn thu lớn hơn cho ngân sách. Nói chung, không phải tập trung ngân sách để đầu tư vào đặc khu để xây hạ tầng vượt trội trong điều kiện tài chính mất cân đối như hiện nay.
Khu Thẩm Quyến của Trung Quốc chỉ được đầu tư rất ít từ ngân sách để xây hàng rào, còn hạ tầng thì đặc khu tự cân đối và kêu gọi các nhà đầu tư. Nhưng sau đó một thời gian không lâu thì đặc khu đã có nguồn thu lớn nộp cho ngân sách. Nước ta phải nghĩ theo cách đó chứ không phải tính chuyện dùng nhiều tiền từ ngân sách để đầu tư vào mấy đặc khu gây hụt nguồn cho các nhu cầu khác hoặc lâm nợ. Đặc khu phải hạch toán có hiệu quả, vừa bảo đảm tự cân đối cho công việc phát triển đặc khu, vừa có nguồn để nộp cho ngân sách nhà nước, chứ không thể chi nhiều hơn thu. Đây là yêu cầu khó khăn khi thực hiện, nhưng không thể không làm thế. Nếu đặc khu là chỗ tiêu hao ngân sách quốc gia và không đem lại hiệu quả tài chính thì không cần phải xây dựng đặc khu trong tình hình hiện tại. Nên sử dụng cơ chế là chủ yếu để tạo ra đặc khu, chứ không phải chọn địa điểm để tập trung đầu tư ngân sách.
Thời gian cho thuê đất cần bảo đảm thu hồi vốn cho nhà đầu tư và sẽ gia hạn khi nhà đầu tư có yêu cầu chính đáng trước lúc giấy phép hết hạn. Thời gian cho thuê đất như quy định trong luật pháp hiện hành là được rồi, không cần phải kéo dài thêm. Luật đặc khu của nước Nga chỉ cho thuê đất không quá 20 năm và không cho lập đơn vị hành chánh riêng.
Giữ vững chủ quyền quản lý lãnh thổ (cả chính trị, kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng) là một nguyên tắc không lúc nào được lãng quên. Chính điều này làm cho hình thức đặc khu khác với hình thức tô nhượng mà trước kia một số nước đã từng thực hiện. Theo đó, quyền phán quyết bằng tòa án kinh tế phải do VN đảm nhận thực hiện và theo luật pháp VN. Còn việc các doanh nghiệp VN và doanh nghiệp nước ngoài tự nguyện hợp đồng với nhau chọn cơ quan trọng tài kinh tế nào (kể cả của quốc tế) để xử lý khi có tranh chấp thì có thể được tôn trọng đối với dự án cụ thể ấy. Qua thực tiễn nếu xét thấy luật pháp VN về xử lý tranh chấp kinh tế có điểm nào thiếu hoặc không không tiên tiến, không phù hợp với luật pháp quốc tế thì công việc lập pháp sẽ bổ sung hoặc điều chỉnh.
Để triển khai xây dựng đặc khu, cần lựa chọn kỹ lưỡng chủ đầu tư là những tập đoàn, doanh nghiệp lớn, có kinh nghiệm phát triển lĩnh vực ngành nghề mà ta dự định. Đó là hướng chủ yếu chứ không phải dùng cơ quan nhà nước làm chủ đầu tư để sử dụng ngân sách. Trong tình hình hiện tại, nước ta không đủ ngân sách để xử lý đồng thời nhiều nhiệm vụ quan trọng. Mặt khác, việc đầu tư cho hạ tầng bằng ngân sách nhà nước thường bị lảng phí một tỷ lệ đáng kể, chất lượng công trình cũng dễ có vấn đề và đưa vào sử dụng hiệu quả thường không cao. Như vậy, có thể rút ra cách suy nghĩ là, nhà nước không trực tiếp tạo ra đặc khu kinh tế, mà chính các tập đoàn kinh tế mới là người tạo ra các khu ấy, còn nhà nước thì chỉ tạo điều kiện, nhất là khung pháp lý. Vì vậy, để bảo đảm cho sự thành công của đặc khu, cần thiết phải tìm chọn chủ đầu tư chiến lược song song với quá trình chuẩn bị đề án, chứ không phải lập ra đặc khu và chờ nhà nước cân đối vốn đến đâu thì làm đến đấy.
VN đất hẹp người đông, mặt khác, lại nằm ở vị trí địa lý rất nhạy cảm mà đối phương luôn dòm ngó, mưu tính lâu dài. Vì vậy, vấn đề các cư dân sẽ sinh sống lâu dài ở đây cần được xem xét cẩn trọng. Cư dân hiện tại và lâu dài chủ yếu vẫn phải là người VN. Dân cư đang sinh sống trong đặc khu nên được sắp xếp lại và giúp đỡ đào tạo nghề nghiệp để họ có thể sinh sống lâu dài tại chỗ, chứ không nên chuyển dời tất cả đi nơi khác. Đồng thời cũng có thể mở về cơ chế để các cư dân nước ngoài là những nhà khoa học-công nghệ, nhà văn hóa, nhà tài chính được định cư ở đây nếu họ đến làm việc trong đặc khu và có nguyện vọng ổn định chỗ ở để làm việc. Ngoài ra, đều phải quản lý việc nhập cư một cách chặt chẻ, không thể mất cảnh giác.
Quảng Nam tháng 7.2018
Nguồn: https://kimdunghn.wordpress.com/2018/08/20/chuyen-dac-khu-kinh-te/#more-41870
Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2018
Sự thật về Sài Gòn - "Hòn ngọc viễn đông" mà Bangkok và Singapore từng mơ ước
Có thật là Bangkok và Singapore từng mơ được như ‘Hòn ngọc Viễn Đông’ Sài Gòn VNCH 1975.
Việc ngợi ca “hòn ngọc Viễn Đông số một” và “Singapore mơ thành Sài Gòn” chỉ là suy nghĩ của những người Việt hoài cổ và dí dỏm sau 1975.
0
Việc ngợi ca “hòn ngọc Viễn Đông số một” và “Singapore mơ thành Sài Gòn” chỉ là suy nghĩ của những người Việt hoài cổ và dí dỏm sau 1975.
Thứ Bảy, 12 tháng 5, 2018
Móng Cái: Bắt cóc trẻ em bán sang Trung Quốc
Chiều 11/05/2018, Công an Tp. Móng Cái phối hợp với đồn biên phòng Móng Cái, Quảng Ninh tiếp nhận 1 trẻ em bị lừa bán sang Trung Quốc.
Xem video trên Facebook
0
Xem video trên Facebook
Đừng để Sài Gòn trở nên 'thành phố mất trí nhớ'
Tuanvietnam.net - Những công trình kiến trúc ghi dấu ấn lịch sử, đậm chất nhân văn xứng đáng có chỗ đứng trong không gian kiến trúc của thành phố, như hiện thân sống động một giai đoạn quá khứ lịch lãm của đời sống đô thị Sài Gòn.
"Tại cuộc họp báo định kỳ của UBND TP HCM trưa 2/5, Giám đốc Sở Quy hoạch- Kiến trúc Nguyễn Thanh Nhã cho biết công trình Dinh Thượng Thơ ngoài 150 tuổi có thể bị đập bỏ để làm dự án nâng cấp trụ sở HĐND- UBND TP HCM. Theo vị lãnh đạo sở: "Công trình này không nằm trong danh mục di tích của ngành Văn hóa - Thể thao nên thành phố quyết định không bảo tồn" [1].
Ngày 30/4, trước quyết định bán đấu giá 9 lô đất thuộc khu chức năng số 1 khu Đô thị Thủ Thiêm, Lãnh đạo UBND thành phố cũng yêu cầu các đơn vị liên quan có phương án di dời cơ sở tôn giáo, Nhà thờ Thủ Thiêm (xây dựng lần đầu năm 1859), Tu viện Thủ Thiêm của Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm có mặt từ năm 1840 [2].
Việc chính quyền thành phố "bật đèn xanh" cho việc phá dỡ những công trình kiến trúc mang dấu ấn lịch sử ngoài trăm năm cho mục đích tái thiết và phát triển chưa nhận được sự đồng thuận của các nhà khoa học, các chuyên gia và nhân dân thành phố.
Theo rà soát của báo Người Đô Thị, khoản 3 điều 37 Luật Di sản văn hóa sửa đổi bổ sung năm 2009 cho thấy, tuyên bố của thành phố về Dinh Thượng Thơ là chưa đủ cơ sở. Vì công trình có tuổi thọ trên 100 năm là có dấu hiệu di sản, các xử lý cần phải có ý kiến của ban ngành theo tinh thần của Luật Di sản văn hóa. Báo Tuổi Trẻ Online cũng đã tiến hành thăm dò ý kiến, chỉ sau 20 tiếng, kết quả cho thấy đại đa số đề nghị phải bảo tồn công trình kiến trúc này (2020/2303 ý kiến).
Trong bối cảnh văn hóa tinh thần, giá trị đạo đức xã hội gặp nhiều lao đao như hiên nay, có thể nói kết quả cuộc thăm dò là tín hiệu rất mừng. Nó chứng tỏ trong xã hội vẫn có rất nhiều người quan tâm đến giá trị của quá khứ, biết quý trọng văn hóa lịch sử...
Một chân lý đơn giản và hiển nhiên là không có quá khứ thì không có hiện tại. Dẫu biết tiến trình xây dựng đất nước tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong đó TP.HCM là một đầu tàu, thì việc giữ lại tất cả công trình văn hóa lịch sử là không thể. Tuy nhiên những công trình kiến trúc ghi dấu ấn lịch sử, đậm chất nhân văn như Nhà thờ Thủ Thiêm, Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm và Dinh Thượng Thơ xứng đáng có một chỗ đứng trong không gian kiến trúc của thành phố. Chúng là hiện thân sống động một giai đoạn quá khứ lịch lãm của đời sống đô thị Sài Gòn, tôn thêm giá trị danh xưng "Hòn ngọc viễn Đông".
Hơn 30 năm đổi mới, mặc dù thành phố đã có những bước nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực như tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tốc độ đô thị hóa, dân số gia tăng v.v... nhưng ít có công trình xứng tầm về giá trị kiến trúc thẩm mỹ. Công trình có chiều sâu tâm linh và giá trị nhân văn càng hiếm. Với những gì đang diễn ra, thành phố có nguy cơ dần trở thành "thành phố mất trí nhớ". Nhìn các tòa cao ốc mới xây ta thấy thuần giá trị vật chất: tận dụng tối đa không gian để tăng diện tích sàn xây dựng, vi phạm quy hoạch về không gian cây xanh, không gian công cộng, vi phạm độ cao... là những câu chuyện thường gặp. Tôi gọi đó là những tòa nhà có "kiến trúc máy tính".
Có lẽ đã có ai đó ngồi bấm máy tính cân đo thiệt hơn chuyện tiền nong việc giữ hay đập bỏ các công trình. Tuy nhiên nếu không xác định ý nghĩa triết học của phát triển kinh tế, quản lý quy hoạch chăm chăm chạy theo đồng tiền thì sẽ đến ngày chúng ta sống với cái túi tiền đầy nhưng tâm hồn rỗng tuếch và cơ thể đầy tật bệnh. Rồi, vẫn giữ phong cách quản lý đó thì sau Dinh Thượng Thơ, Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm, ai biết được sẽ là những công trình nào?
Nên nhắc, thành phố vừa "hy sinh" Thương xá Tax, hàng trăm cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng cho phát triển. Nỗi xót xa, tiếc nuối còn chưa nguôi trong lòng người dân.
Dự án chống lại giá trị văn hóa thường không có tuổi thọ lâu! Khuôn viên Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM (trước kia là Thư viện quốc gia) đã bị tận dụng để đặt trụ sở công ty của "Vũ Nhôm”. Vài năm trước dư luận xôn xao trước thông tin công ty này đề xuất phương án xây dựng Khu phức hợp cao tầng văn phòng, khách sạn 20 tầng tại đây. Giờ thì “Vũ Nhôm” đang ngồi trong khám chờ ra hầu tòa, còn dư luận cũng đặt ra nhiều câu hỏi xung quanh việc cấp phép cho thuê đất này [3].
Theo TS Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu tôn giáo thì Quy hoạch khu Đô thị Thủ Thiêm dành cho cả triệu dân lưu trú và làm việc mà không có quy hoạch công trình tôn giáo là một thiếu sót. Điều này đúng cho không chỉ Thủ Thiêm. Và cho dù nhiệm kỳ sau có thể sửa sai bằng cách lấp vào lô đất trống một công trình tôn giáo mới chăng nữa thì cũng chỉ là việc làm chắp vá. Có được một bề dày lịch sử và chiều sâu tâm linh như Nhà thờ Thủ Thiêm mất 100 năm chưa chắc gầy dựng được. Phá bỏ Dinh Thượng Thơ để thế vào một công trình hiện đại là một việc dễ. Nhưng tạo ra một dấu ấn kiến trúc như Dinh hiện hữu thì người lạc quan nhất cũng không mơ.
Nhìn những bức ảnh chụp chính diện Dinh Thượng Thơ của người xưa lưu lại lòng tôi bồi hồi xúc động, bất chợt hai câu thơ thuở học trò hiện về: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương... Cái hồn ấy, giá trị lịch sử ấy không thể mua được bằng tiền hay "nhiều tiền". Không chú trọng lưu giữ cái hồn của người xưa trong phát triển thì nguy cơ “trật đường ray”, "mất trí nhớ" luôn hiện hữu!
Trúc Nguyễn
-----
[1] "Dinh Thượng thơ" gần 160 tuổi ở Sài Gòn sẽ không được bảo tồn, Người Lao động, 02/05/2018.
[2] Cận cảnh nhà thờ, nhà dòng Thủ Thiêm gần 180 tuổi, Pháp luật TP.HCM, 3/5/2018.
[3] Xung quanh việc thuê đất của Cty CP Xây dựng Bắc Nam 79 liên quan Vũ "nhôm": Nhiều câu hỏi cần phải được làm rõ, Lao động online, 20/04/2018.
0
"Tại cuộc họp báo định kỳ của UBND TP HCM trưa 2/5, Giám đốc Sở Quy hoạch- Kiến trúc Nguyễn Thanh Nhã cho biết công trình Dinh Thượng Thơ ngoài 150 tuổi có thể bị đập bỏ để làm dự án nâng cấp trụ sở HĐND- UBND TP HCM. Theo vị lãnh đạo sở: "Công trình này không nằm trong danh mục di tích của ngành Văn hóa - Thể thao nên thành phố quyết định không bảo tồn" [1].
Ngày 30/4, trước quyết định bán đấu giá 9 lô đất thuộc khu chức năng số 1 khu Đô thị Thủ Thiêm, Lãnh đạo UBND thành phố cũng yêu cầu các đơn vị liên quan có phương án di dời cơ sở tôn giáo, Nhà thờ Thủ Thiêm (xây dựng lần đầu năm 1859), Tu viện Thủ Thiêm của Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm có mặt từ năm 1840 [2].
Việc chính quyền thành phố "bật đèn xanh" cho việc phá dỡ những công trình kiến trúc mang dấu ấn lịch sử ngoài trăm năm cho mục đích tái thiết và phát triển chưa nhận được sự đồng thuận của các nhà khoa học, các chuyên gia và nhân dân thành phố.
Theo rà soát của báo Người Đô Thị, khoản 3 điều 37 Luật Di sản văn hóa sửa đổi bổ sung năm 2009 cho thấy, tuyên bố của thành phố về Dinh Thượng Thơ là chưa đủ cơ sở. Vì công trình có tuổi thọ trên 100 năm là có dấu hiệu di sản, các xử lý cần phải có ý kiến của ban ngành theo tinh thần của Luật Di sản văn hóa. Báo Tuổi Trẻ Online cũng đã tiến hành thăm dò ý kiến, chỉ sau 20 tiếng, kết quả cho thấy đại đa số đề nghị phải bảo tồn công trình kiến trúc này (2020/2303 ý kiến).
Trong bối cảnh văn hóa tinh thần, giá trị đạo đức xã hội gặp nhiều lao đao như hiên nay, có thể nói kết quả cuộc thăm dò là tín hiệu rất mừng. Nó chứng tỏ trong xã hội vẫn có rất nhiều người quan tâm đến giá trị của quá khứ, biết quý trọng văn hóa lịch sử...
Một chân lý đơn giản và hiển nhiên là không có quá khứ thì không có hiện tại. Dẫu biết tiến trình xây dựng đất nước tiến lên công nghiệp hóa hiện đại hóa, trong đó TP.HCM là một đầu tàu, thì việc giữ lại tất cả công trình văn hóa lịch sử là không thể. Tuy nhiên những công trình kiến trúc ghi dấu ấn lịch sử, đậm chất nhân văn như Nhà thờ Thủ Thiêm, Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm và Dinh Thượng Thơ xứng đáng có một chỗ đứng trong không gian kiến trúc của thành phố. Chúng là hiện thân sống động một giai đoạn quá khứ lịch lãm của đời sống đô thị Sài Gòn, tôn thêm giá trị danh xưng "Hòn ngọc viễn Đông".
Hơn 30 năm đổi mới, mặc dù thành phố đã có những bước nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực như tăng trưởng kinh tế, thu hút đầu tư, tốc độ đô thị hóa, dân số gia tăng v.v... nhưng ít có công trình xứng tầm về giá trị kiến trúc thẩm mỹ. Công trình có chiều sâu tâm linh và giá trị nhân văn càng hiếm. Với những gì đang diễn ra, thành phố có nguy cơ dần trở thành "thành phố mất trí nhớ". Nhìn các tòa cao ốc mới xây ta thấy thuần giá trị vật chất: tận dụng tối đa không gian để tăng diện tích sàn xây dựng, vi phạm quy hoạch về không gian cây xanh, không gian công cộng, vi phạm độ cao... là những câu chuyện thường gặp. Tôi gọi đó là những tòa nhà có "kiến trúc máy tính".
Có lẽ đã có ai đó ngồi bấm máy tính cân đo thiệt hơn chuyện tiền nong việc giữ hay đập bỏ các công trình. Tuy nhiên nếu không xác định ý nghĩa triết học của phát triển kinh tế, quản lý quy hoạch chăm chăm chạy theo đồng tiền thì sẽ đến ngày chúng ta sống với cái túi tiền đầy nhưng tâm hồn rỗng tuếch và cơ thể đầy tật bệnh. Rồi, vẫn giữ phong cách quản lý đó thì sau Dinh Thượng Thơ, Dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm, ai biết được sẽ là những công trình nào?
Nên nhắc, thành phố vừa "hy sinh" Thương xá Tax, hàng trăm cây xanh trên đường Tôn Đức Thắng cho phát triển. Nỗi xót xa, tiếc nuối còn chưa nguôi trong lòng người dân.
Dự án chống lại giá trị văn hóa thường không có tuổi thọ lâu! Khuôn viên Thư viện Khoa học tổng hợp TP.HCM (trước kia là Thư viện quốc gia) đã bị tận dụng để đặt trụ sở công ty của "Vũ Nhôm”. Vài năm trước dư luận xôn xao trước thông tin công ty này đề xuất phương án xây dựng Khu phức hợp cao tầng văn phòng, khách sạn 20 tầng tại đây. Giờ thì “Vũ Nhôm” đang ngồi trong khám chờ ra hầu tòa, còn dư luận cũng đặt ra nhiều câu hỏi xung quanh việc cấp phép cho thuê đất này [3].
Theo TS Nguyễn Quốc Tuấn, Nguyên Viện trưởng viện nghiên cứu tôn giáo thì Quy hoạch khu Đô thị Thủ Thiêm dành cho cả triệu dân lưu trú và làm việc mà không có quy hoạch công trình tôn giáo là một thiếu sót. Điều này đúng cho không chỉ Thủ Thiêm. Và cho dù nhiệm kỳ sau có thể sửa sai bằng cách lấp vào lô đất trống một công trình tôn giáo mới chăng nữa thì cũng chỉ là việc làm chắp vá. Có được một bề dày lịch sử và chiều sâu tâm linh như Nhà thờ Thủ Thiêm mất 100 năm chưa chắc gầy dựng được. Phá bỏ Dinh Thượng Thơ để thế vào một công trình hiện đại là một việc dễ. Nhưng tạo ra một dấu ấn kiến trúc như Dinh hiện hữu thì người lạc quan nhất cũng không mơ.
Nhìn những bức ảnh chụp chính diện Dinh Thượng Thơ của người xưa lưu lại lòng tôi bồi hồi xúc động, bất chợt hai câu thơ thuở học trò hiện về: Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo/ Nền cũ lâu đài bóng tịch dương... Cái hồn ấy, giá trị lịch sử ấy không thể mua được bằng tiền hay "nhiều tiền". Không chú trọng lưu giữ cái hồn của người xưa trong phát triển thì nguy cơ “trật đường ray”, "mất trí nhớ" luôn hiện hữu!
Trúc Nguyễn
-----
[1] "Dinh Thượng thơ" gần 160 tuổi ở Sài Gòn sẽ không được bảo tồn, Người Lao động, 02/05/2018.
[2] Cận cảnh nhà thờ, nhà dòng Thủ Thiêm gần 180 tuổi, Pháp luật TP.HCM, 3/5/2018.
[3] Xung quanh việc thuê đất của Cty CP Xây dựng Bắc Nam 79 liên quan Vũ "nhôm": Nhiều câu hỏi cần phải được làm rõ, Lao động online, 20/04/2018.
Thứ Bảy, 23 tháng 12, 2017
[Video] Bộ công an phát lệnh truy nã ông Vũ "nhôm"
Hôm nay Bộ công an phát lệnh truy nã đối với ông Phan Văn Anh Vũ (Vũ "nhôm") về tội làm lộ tài liệu bí mật nhà nước.
Ngành công an TP.Đã Nẵng đang triển khai thực hiện quyết định của Bộ Công an về việc truy nã đối với ông Phan Văn Anh Vũ, tức Vũ “nhôm”.
Khuya 22.12, một nguồn tin cho biết, ngành công an của TP.Đà Nẵng đang triển khai thực hiện quyết định định truy nã của Bộ Công an đối với Phan Văn Anh Vũ (tức Vũ “nhôm”), 42 tuổi, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP xây dựng Bắc Nam 79; nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Công toy CP Nova Bắc Nam 79 (nay là Công ty CP đầu tư và phát triển Chấn Phong); chỗ ở trước khi trốn: 82 Trần Quốc Toản, P.Hải Châu 1, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng.
Một nguồn tin của Thanh Niên xác nhận Bộ Công an ra quyết định truy nã đối với ông Phan Văn Anh Vũ về hành vi “Cố ý làm lộ tài liệu bí mật nhà nước”.
Trước đó, chiều 21.12, lực lượng mặc cảnh phục xuất hiện trước ngôi nhà của ông Vũ “nhôm” (82 Trần Quốc Toản, P.Hải Châu 1, Q.Hải Châu, TP.Đà Nẵng). Vụ việc thu hút sự hiếu kỳ của rất nhiều người dân địa phương.
Ông Phan Văn Anh Vũ là một đại gia bất động sản có tiếng tại Đà Nẵng, sở hữu nhiều dự án lớn tại các vị trí đắc địa. Thời gian gần đây, ông Vũ được nhiều người biết đến khi cùng đối tác triển khai “siêu dự án” lấn biển khu đô thị quốc tế Đa Phước (Q.Hải Châu) với tổng mức đầu tư giai đoạn 1 hơn 4.465 tỉ đồng. Chủ đầu tư dự án là Công ty TNHH The Sunrise Bay, ông Vũ làm chủ tịch hội đồng thành viên. Công ty này được thành lập bởi sự góp vốn của Công ty CP xây dựng Bắc Nam 79 do ông Vũ làm chủ tịch hội đồng quản trị và Công ty CP Nova Bắc Nam 79. Tuy nhiên, mới đây, dự án bị cáo buộc sử dụng cát hút trộm từ vùng biển Cửa Đại (TP.Hội An, Quảng Nam). Sau đó, dự án này tiếp tục dính đến nghi án làm giấy tờ giả để hợp thức hóa nguồn gốc cát sử dụng san lấp mặt bằng.
Ông Anh Vũ còn dính đến những sai phạm đất đai tại TP.Đà Nẵng đã được Thanh tra Chính phủ kết luận từ năm 2012. Cụ thể theo kết luận, năm 2006, khu đất phía nam cuối đường Phạm Văn Đồng được UBND TP.Đà Nẵng chuyển nhượng cho ông Hoàng Hải và bà Trung Thị Lâm Ngọc, tổng giá trị hợp đồng là 84 tỉ đồng. Năm 2008, ông Hải và bà Ngọc không triển khai thực hiện dự án, ủy quyền cho ông Anh Vũ chuyển nhượng cho ông Phạm Đăng Quan với giá 581,526 tỉ đồng (chênh lệch 495,374 tỉ đồng). Năm 2009, ông Quan tiếp tục chuyển nhượng cho Công ty CP đầu tư địa ốc ô tô Phương Trang với giá 585 tỉ đồng. Thanh tra Chính phủ cũng cho rằng, tại dự án khu đô thị quốc tế Đa Phước, ông Vũ được TP.Đà Nẵng giao đất với giá thấp hơn quy định, làm lợi cho Công ty CP xây dựng 79 hơn 570 tỉ đồng.
Tháng 9.2017, Cơ quan ANĐT - Bộ Công an vào cuộc điều tra 9 dự án đầu tư và 31 nhà, đất công sản thuộc sở hữu nhà nước tại Đà Nẵng từ năm 2006 đến nay. Trong danh sách 9 dự án bị điều tra có một số dự án được cho có liên quan ông Phan Văn Anh Vũ, gồm: dự án khu công viên An Đồn (nay là Trường mẫu giáo ABC rộng 3.600 m2); dự án khu đô thị quốc tế Đa Phước; dự án khu du lịch ven biển đường Trường Sa; dự án Phú Gia Compound; khu đô thị sinh thái Phú Gia ven sông.
Trong số 31 lô nhà, đất công sản trong danh sách đang được phía công an đề nghị cung cấp hồ sơ để làm rõ đều nằm tại các vị trí đắc địa nhất ở Đà Nẵng và hầu hết được bán cho doanh nghiệp không qua đấu giá, dù theo quy định của luật Đất đai, khi bán nhà hoặc đất công sản, phải đưa ra đấu giá công khai. Phần nhiều trong số đó cũng liên quan đến ông Vũ như: lô đất số 32 Lê Hồng Phong hiện là nơi đặt trụ sở của 3 công ty gồm: Công ty CP xây dựng 79, Công ty CP xây dựng Bắc Nam 79 và Công ty TNHH I.V.C. Lô đất số 16 Bạch Đằng là trụ sở Sở Tư pháp TP (cũ), cuối năm 2014, TP giao cho Công ty CP xây dựng Bắc Nam 79 với giá 45,3 tỉ đồng. Hiện khu đất này chưa xây dựng công trình gì.
Ngoài ra, còn có các lô 45 Nguyễn Thái Học (chuyển nhượng từ thời điểm năm 2007, 2010). Đây là những lô nằm liền kề căn nhà số 43 được UBND tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) bán cho cha mẹ của ông Nguyễn Xuân Anh (nguyên Bí thư Thành ủy Đà Nẵng) từ năm 1993. Ông Xuân Anh cũng sử dụng ngôi nhà liền kề số 45. Trong kết luận của Ủy ban Kiểm tra T.Ư, ông Xuân Anh thiếu gương mẫu vì “sử dụng 2 nhà ở của doanh nghiệp”, gây dư luận xấu trong xã hội. Cụ thể, căn nhà số 45 Nguyễn Thái Học được Công ty I.V.C (một trong những công ty có liên quan đến Phan Văn Anh Vũ) mua vào năm 2007. Căn nhà 47 Nguyễn Thái Học được cho của ông Vũ “nhôm” cũng nằm trong danh sách 31 lô nhà bị điều tra.
Nguồn: Thanh Niên
Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017
Ba cán bộ môi trường bị bắt liên quan đến Formosa Hà Tĩnh
Công an Việt Nam bắt ba cán bộ môi trường ở Hà Nội vì gian dối trong xử lý rác tại nhà máy Formosa, cho rằng họ làm hồ sơ khống để thu lợị.
Truyền thông Việt Nam hôm 12/12 loan tin Bộ Công an đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với 3 người nguyên là cán bộ của Công ty Cổ phần Môi trường đô thị và Công nghiệp 10 (URENCO 10), gồm ông Ngô Xuân Hiếu, nguyên Giám đốc, ông Bùi Trí Bình, nguyên Phó giám đốc và ông Tống Ngọc Thanh, nguyên cán bộ phòng kinh doanh, về hành vi lập khống giấy tờ, thủ tục xử lý rác thải tại Formosa Hà Tĩnh.
Báo Công an Nhân dân nói một đại lý ở Hà Tĩnh đã ký hợp đồng với công ty Formosa để thu gom, xử lí rác thải. Sau đó, đại lí này ký hợp đồng với số cán bộ trên của URENCO 10 thuê xử lí rác thải của Formosa.
Tuy nhiên, khi vận chuyển rác ra Hà Nội, nhóm cán bộ trên không đưa rác về công ty để xử lý mà lập chứng từ khống gây thiệt hại hàng tỷ đồng rồi đưa ra ngoài xử lý nhằm thu lợi, báo Công an Nhân dân cho biết thêm.
Báo Dân trí nói cơ quan công an xác định từ 2013 - 2015, nhóm cán bộ trên ký các hợp đồng thu gom, xử lý ba bên, nhưng hoàn thiện hồ sơ khống, thu về không xử lý ở công ty mục đích để thu lời.
Nhà hoạt động vì môi trường Nguyễn Thiện Nhân ở Bình Dương nói với VOA rằng việc bắt ba cán bộ này cho thấy có bàn tay của Formosa cấu kết với các viên chức nhà nước trong việc che đậy thảm họa môi trường:
“Đây chỉ là những cán bộ thuôc công ty bên ngoài Formosa, nhưng họ cấu kết với Formosa để xử lý chất thải, nhưng thực tế là họ không xử lý, mà chỉ hợp thức hóa giấy tờ cho cái gọi là xử lý đó. Mặt khác, họ còn rút tiền từ ngân sách nhà nước qua việc xuất hóa đơn khống. Tôi nghĩ chắc chắn công ty Formosa có nhúng tay vào việc này và cần thiết phải điều tra luôn cả công ty Formosa để làm rõ và xử lý triệt để.”
Thảm họa biển miền trung xảy ra hồi năm ngoái khi nhà máy thép của hãng Formosa của Đài Loan đặt ở Hà Tĩnh gặp sự cố khi vận hành thử, xả thải độc hại trái phép làm cá chết hàng loạt ở tỉnh này và 3 tỉnh khác.
Ônh Nhân nói qua đó cho thấy có hành vi gian lận trong việc Formosa xử lý chất thải:
“Thường chính quyền rất ngại đụng đến Formosa một cách trực tiếp và chỉ đụng đến các cán bộ kinh tế liên quan mà thôi. Trên giác độ quan sát của người dân thì chúng ta thấy rõ rằng đây là một hành vi gian lận để chôn giấu chất thải của nhà máy Formosa mà không xử lý.”
Tháng 6/2016, Formosa đã nhận trách nhiệm về vụ này và chấp nhận bồi thường 500 triệu đôla cho chính phủ Việt Nam.
Từ đó đến nay, nhà chức trách Việt Nam đã phát tiền đền bù cho những người bị ảnh hưởng nhưng nhiều người vẫn chỉ trích rằng số tiền đền bù và sự minh bạch của chính phủ về vụ ô nhiễm còn chưa thỏa đáng.
0
Truyền thông Việt Nam hôm 12/12 loan tin Bộ Công an đã thực hiện lệnh bắt tạm giam đối với 3 người nguyên là cán bộ của Công ty Cổ phần Môi trường đô thị và Công nghiệp 10 (URENCO 10), gồm ông Ngô Xuân Hiếu, nguyên Giám đốc, ông Bùi Trí Bình, nguyên Phó giám đốc và ông Tống Ngọc Thanh, nguyên cán bộ phòng kinh doanh, về hành vi lập khống giấy tờ, thủ tục xử lý rác thải tại Formosa Hà Tĩnh.
Báo Công an Nhân dân nói một đại lý ở Hà Tĩnh đã ký hợp đồng với công ty Formosa để thu gom, xử lí rác thải. Sau đó, đại lí này ký hợp đồng với số cán bộ trên của URENCO 10 thuê xử lí rác thải của Formosa.
Tuy nhiên, khi vận chuyển rác ra Hà Nội, nhóm cán bộ trên không đưa rác về công ty để xử lý mà lập chứng từ khống gây thiệt hại hàng tỷ đồng rồi đưa ra ngoài xử lý nhằm thu lợi, báo Công an Nhân dân cho biết thêm.
Báo Dân trí nói cơ quan công an xác định từ 2013 - 2015, nhóm cán bộ trên ký các hợp đồng thu gom, xử lý ba bên, nhưng hoàn thiện hồ sơ khống, thu về không xử lý ở công ty mục đích để thu lời.
Nhà hoạt động vì môi trường Nguyễn Thiện Nhân ở Bình Dương nói với VOA rằng việc bắt ba cán bộ này cho thấy có bàn tay của Formosa cấu kết với các viên chức nhà nước trong việc che đậy thảm họa môi trường:
“Đây chỉ là những cán bộ thuôc công ty bên ngoài Formosa, nhưng họ cấu kết với Formosa để xử lý chất thải, nhưng thực tế là họ không xử lý, mà chỉ hợp thức hóa giấy tờ cho cái gọi là xử lý đó. Mặt khác, họ còn rút tiền từ ngân sách nhà nước qua việc xuất hóa đơn khống. Tôi nghĩ chắc chắn công ty Formosa có nhúng tay vào việc này và cần thiết phải điều tra luôn cả công ty Formosa để làm rõ và xử lý triệt để.”
Thảm họa biển miền trung xảy ra hồi năm ngoái khi nhà máy thép của hãng Formosa của Đài Loan đặt ở Hà Tĩnh gặp sự cố khi vận hành thử, xả thải độc hại trái phép làm cá chết hàng loạt ở tỉnh này và 3 tỉnh khác.
Ônh Nhân nói qua đó cho thấy có hành vi gian lận trong việc Formosa xử lý chất thải:
“Thường chính quyền rất ngại đụng đến Formosa một cách trực tiếp và chỉ đụng đến các cán bộ kinh tế liên quan mà thôi. Trên giác độ quan sát của người dân thì chúng ta thấy rõ rằng đây là một hành vi gian lận để chôn giấu chất thải của nhà máy Formosa mà không xử lý.”
Tháng 6/2016, Formosa đã nhận trách nhiệm về vụ này và chấp nhận bồi thường 500 triệu đôla cho chính phủ Việt Nam.
Từ đó đến nay, nhà chức trách Việt Nam đã phát tiền đền bù cho những người bị ảnh hưởng nhưng nhiều người vẫn chỉ trích rằng số tiền đền bù và sự minh bạch của chính phủ về vụ ô nhiễm còn chưa thỏa đáng.
Thứ Bảy, 16 tháng 11, 2013
Trụ trì dỡ tượng Phật, thờ tượng chính mình, đóng đinh vào đầu tượng Phật cổ
Sư trụ trì Thích Minh Phượng, chùa Chân Long (Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Nội), bị cáo buộc đã thay một bức tượng Phật Ngọc Hoàng cổ trong gian nhà Tổ bằng một bức tượng Phật mới giống chính mình tới 90%. Bức tượng bị kéo ra khỏi chùa và bị công chúng làm nhục. Sư trụ trì Thích Minh Phượng đã bị chỉ trích nặng nề bởi các mạng xã hội và phương tiện truyền thông.
Các bình luận trên mạng xã hội cho rằng điều này là quá kiêu ngạo khi đặt một bức tượng chân dung để thay thế cho bức tượng Phật. Khiêm tốn là một đức tính cơ bản của tu sĩ Phật Giáo. Việc làm này đi ngược lại các giá trị phương Đông. Thật thú vị khi tìm hiểu làm thế nào mà nhà sư có nhiều tiền để đúc một bức tượng lớn (cao 1m và nặng 350 kg).
Vị sư này giải thích rằng một nữ Phật tử tên Chu Thị Nụ đã đặt làm bức tượng chân dung theo ảnh mẫu ở chùa Hoa Hiên chụp tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông khi ngài đang chiêm kiến. Thông tin này đã được Giáo hội Phật giáo địa phương tại Hà Nội chính thức xác nhận.
Bỏ tượng cổ Ngọc Hoàng thay bằng tượng lạ
Theo báo cáo của UBND xã Chàng Sơn số 28/BC – UBND, sư thầy Thích Minh Phượng (tức ông Nguyễn Xuân Long) trụ trì chùa Chân Long Tự từ năm 2010 đến nay đã liên tiếp xảy ra vi phạm. Đỉnh điểm của những vi phạm là ngày 20/10/2013, hàng nghìn người dân trong xã Chàng Sơn (Thạch Thất, Hà Nội) bức xúc khi phát hiện ra sư Thích Minh Phượng đã thay một bức tượng Phật Ngọc Hoàng cổ trong gian nhà Tổ bằng bức tượng đồng lạ.
Ngày 24-10, chính quyền xã và nhân dân địa phương phát hiện ra bức tượng sơn son thếp vàng (pho tượng cổ Ngọc Hoàng, có tuổi thọ 300 năm, chiều cao khoảng 1,2 m) đã bị cho vào bao tải vứt xuống sông từ năm 2011. UBND xã Chàng Sơn cử một đoàn công tác xuống chùa xác minh thực hư và tiến hành lập biên bản, yêu cầu sư trụ trì di chuyển bức tượng lạ kể trên, đặt tượng cổ Ngọc Hoàng về chỗ cũ.
Sau đó hàng loạt những sự thật gây sốc được phát hiện như trong nhà tắm của Thích Minh Phượng treo bức ảnh của một thiếu nữ không mặc áo, đang ôm chiếc bình hoa, vị sư này còn lập một đạo tràng gần 100 người với hầu hết là phụ nữ, chỉ có 2 người đàn ông.
Hình ảnh tại phòng tắm của sư Phượng, trụ trì chùa Chân Long (Thạch Thất, Hà Nội) được cộng đồng mạng chia sẻ những ngày qua. Ảnh: Soha News
Túm tóc, bóp cổ, tát vào mặt phụ nữ
Mới đây vị sư này còn bị tố đánh chị Nguyễn Thị Nhung (xã Hữu Bằng – Thạch Thất) phải nằm viện. Theo lời chị Nhung tường thuật lại thì vào tháng 7/2013 khi thấy xe của sư Phượng đâm vào người chở gỗ, sư chỉ lo xe của mình có bị xước sơn, vỡ kính hay không mà không quan tâm đến tính mạng của người chở gỗ đó.
Lúc chị Nhung chạy lại đỡ người chở gỗ thì bị sư chửi rồi túm tóc, bóp cổ, tát vào mặt. Sau đó chị không ngẩng đầu lên được trong suốt một tuần, phải đi bệnh viện Sơn Tây chữa nửa tháng mới khỏi. Chị Nhung đã làm đơn kiện nhưng đến nay vẫn không thấy chính quyền xử lý.
Vứt câu đối, thông tin cổ vào một góc chùa
Sáng 13/11, người dân Chàng Sơn một lần nữa lại dậy sóng khi phát hiện nhiều thông tin cổ được khắc trên gỗ bị sư Phượng ném vào một góc chùa và cả hai câu đối cổ cũng bị ném một góc, thay vào đó những câu đối mới.
Người dân Chàng Sơn phát hiện nhiều thông tin cổ được khắc trên gỗ bị sư Phượng ném vào một góc trong chùa.
Những cao niên trong làng cho biết, những thông tin cổ này có từ rất lâu trong chùa và họ đều không đọc được những chữ và ký hiệu được khắc trên gỗ.
Tượng cổ bị trụ trì đóng đinh vào đầu
Rất nhiều bức tượng Phật, bát hương cổ... bị trụ trì Thích Minh Phượng của chùa Chân Long (Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Nội) tự ý thay đổi, khiến người dân vô cùng phẫn nộ.
Không chỉ tự ý thay thế các tượng cổ, di chuyển đi nơi khác mà nhiều tượng cổ trong chùa Chân Long bị trụ trì Thích Minh Phượng dùng đinh đóng vào đầu.
Xem thêm: http://phunutoday.vn/xa-hoi/can-canh-tuong-co%CC%89-bi%CC%A3-tru%CC%A3-tri%CC%80-do%CC%81ng-dinh-va%CC%80o-da%CC%80u-34997.html
Có ôtô riêng
Không chỉ có ôtô riêng, Sư Thích Minh Phượng - Trụ trì chùa Chàng Sơn (ở Chàng Sơn, Thạch Thất, Hà Nội) còn có lối sống khá trần tục. Trong nhà đầy đủ bia rượu, nhà tắm có keo vuốt tóc, ảnh gợi cảm...
Sau khi nhân dân xã Chàng Sơn (huyện Thạch Thất, Hà Nội) cùng chính quyền trục xuất pho tượng đồng “giống 90% chân dung sư trụ trì” ra khỏi chùa Chân Long ngày 5/11, vị sư này cũng biến mất khỏi chùa.
Sau khi rời khỏi chùa, sư Thích Minh Phượng vẫn để lại trong gara của mình (xây trong khuôn viên chùa, cạnh cổng ra vào) chiếc ôtô hiệu KIA Morning. Một chiếc xe thế này có giá khoảng hơn 400 triệu đồng.
Thêm chi tiết: http://trithucthoidai.vn/su-tru-tri-quotduc-tuong-giong-minhquot-co-oto-rieng-a115186.html#.Uob2EOh1AfU
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)













