Tại Hội chợ Triển lãm hàng Xuất khẩu ở Quảng Châu, Trung Quốc, câu chuyện của nhiều nhà sản xuất đã được Bloomberg góp nhặt nhằm vẽ lên bức trang toàn cảnh nhất về cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung Quốc.
0
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 23 tháng 10, 2018
Khoản nợ 6.000 tỷ USD đẩy Trung Quốc tiến sát "mối họa Titanic"
Các chính quyền địa phương của Trung Quốc có thể đã nợ tới 40.000 tỷ tệ (5.800 tỷ USD), thậm chí còn nhiều hơn đẩy nền kinh tế nước này đối mặt nguy cơ bị núi nợ đè.
Thứ Sáu, 19 tháng 10, 2018
Google tính phí ứng dụng trên Android sẽ khiến Xiaomi, Oppo chịu thiệt lớn
Các hãng smartphone giá rẻ của châu Á như Xiaomi và Oppo sẽ buộc phải thay đổi chiến lược khi Google tính phí với các ứng dụng của mình trên Android.
Chiều thứ ba vừa qua, Google cho biết sẽ bắt đầu tính phí với các nhà sản xuất smartphone khi cài đặt các ứng dụng bản đồ, email và nhiều ứng dụng khác của công ty lên những điện thoại bán tại châu Âu. Nhưng quyết định này cũng sẽ làm các hãng điện thoại giá rẻ của châu Á phải lo lắng khi buộc phải thay đổi chiến lược của mình.
Bắt đầu từ 29 tháng Mười, Google sẽ yêu cầu các nhà sản xuất mua giấy phép để được cài đặt trước gói ứng dụng đi kèm trong Android – bao gồm Play Store, Google Maps, Gmail và YouTube – trên các thiết bị bán tại Khu vực Kinh tế châu Âu. Trình duyệt Chrome và ứng dụng Google Search còn cần đến các giấy phép riêng biệt.
Các công ty sản xuất điện thoại Android, ví dụ như hãng Samsung Electronics của Hàn Quốc và Huawei Technologies của Trung Quốc, sẽ phải trả phí cho Google để được sử dụng các ứng dụng vốn đã trở thành tiêu chuẩn trên thiết bị của mình.
Các nhà sản xuất smartphone có thể đẩy gánh nặng trả phí này cho người dùng bằng cách tính giá cao hơn, nhưng điều đó sẽ gây khó khăn cho các công ty Trung Quốc như Xiaomi hay Oppo vốn đang tạo dựng nên vị thế của mình tại châu Âu bằng các smartphone giá rẻ.
Từ trước khi tiến hành IPO vào giữa năm nay, Xiaomi đã gây dựng sự hiện diện của mình tại các thị trường Pháp và Italia, tiếp sau đó là Tây Ban Nha trong năm 2017. Trong khi đó, Oppo đã xâm nhập vào Tây Ban Nha, Pháp, Italia, Nga và cả Hà Lan. Ngoài ra, một số báo cáo cho biết công ty còn có kế hoạch tiến vào Anh.
Trước đó vào tháng Sáu, Ủy ban châu Âu cho rằng Google đã vi phạm các quy định cạnh tranh bằng cách buộc các nhà sản xuất phải cài đặt trước Chrome và ứng dụng Google Search để có được giấy phép cho cửa hàng ứng dụng của Google.
Ủy ban này sau đó đã phạt Google số tiền 4,34 tỷ Euro (tương đương 5,01 tỷ USD) và đe dọa sẽ áp đặt các án phạt tiếp theo nếu nhà khổng lồ tìm kiếm này không đưa ra các thay đổi trong vòng 90 ngày.
Tuần trước, Google đã đệ đơn kháng án lại quyết định. Hiroshi Lockheimner, phó chủ tịch về nền tảng và hệ sinh thái, cho biết trong tuyên bố vào thứ Ba vừa qua: "Chúng tôi tin rằng Android đã tạo ra nhiều sự lựa chọn hơn, không phải ít hơn."
Theo Nikkei Asian, Tri Thức Trẻ
Lãnh đạo Samsung Securities: Triều Tiên có thể thay thế Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất màn hình và điện thoại thông minh
Với Samsung Electronics, Triều Tiên là ứng cử viên hoàn hảo để đặt dây chuyền nhà máy bởi chi phí nhân công rẻ, không có rào cản ngôn ngữ và có cùng múi giờ.
Người thừa kế tập đoàn Samsung đã gây chú ý trong chuyến thăm đầu tiên của ông tới thủ đô Bình Nhưỡng, Triều Tiên vào tháng trước.
Trong hành trình cùng phái đoàn gồm 200 thành viên từ Hàn Quốc sang Triều Tiên cùng Tổng thống Moon Jae-in, Phó chủ tịch Samsung Electronics Lee Jae-yong nhìn thấy một tấm biển quảng cáo gần nhà ga Bình Nhưỡng có dòng chứ "Khoa học là trên hết, Nhân tài là trên hết".
Những từ này gần như giống hoàn toàn với triết lý quản lý của Samsung: "Công nghệ là trên hết, Tài năng là trên hết".
"Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một thứ như vậy ở bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới", ông Lee tỏ ra đầy bất ngờ khi nói chuyện với Phó thủ tướng Triều Tiên Ri Ryong Nam trong cuộc họp vào ngày 18/9. "Vốn có tồn tại mối băn khoăn trong tâm trí nhưng hiện tại tôi cảm thấy chúng ta như là cùng một quốc gia vậy".
Những nhà lãnh đạo các tập đoàn khác cùng tham dự chuyến thăm này đã quay về với cùng những tín hiệu tích cực về tiềm năng khởi động kinh doanh tại Triều Tiên. Tuy nhiên, họ cũng được cảnh báo về những rủi ro và khó khăn.
Cấm vận từ UN và một số quốc gia gồm Mỹ và Hàn Quốc đối với Triều Tiên vẫn đang được tiến hành. Điều đó có nghĩa là các tập đoàn như Samsung, Lotte, SK, LG và Hyundai đều không thể hoạt động tại đây. Cũng có nhiều câu hỏi được đặt ra là liệu mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp này có thể kéo dài được bao lâu và ông Kim Jong Un có nghiêm túc với những khoản đầu tư từ nước ngoài hay không.
Tuy nhiên, ít nhất phía Tổng thống Moon và nhà lãnh đạo Kim đang vẽ ra những kế hoạch. Và họ nói rằng muốn những chaebol nổi tiếng của Hàn Quốc tham gia vào kế hoạch đó.
Trong thời gian ông Lee ở Bình Nhưỡng, nhà lãnh đạo 2 nước đã đồng ý phát triển nền kinh tế Triều Tiên, viết bản hòa ước xây dựng đường tàu và những con đường dọc bờ biển 2 quốc gia. Các nhà chức trách 2 bên cũng đồng ý vào hôm thứ 2 tại buổi họp ở ngôi làng đình chiến Panmunjom về việc chuẩn bị khởi công những dự án cơ sở hạ tầng vào cuối năm nay.
Kế hoạch là vậy nhưng có một câu hỏi lớn là: Tiền.
Hana Financial Investment – một công ty môi giới Hàn Quốc nói rằng kế hoạch đó có thể trị giá 38,1 nghìn tỷ won (tương đương 33,3 tỷ USD) để xây dựng hệ thống xe lửa tới Triều Tiên. Trong khi đó phía Societe Generale thì ước đoán mức giá cho những con đường trong kế hoạch kể trên vào khoảng 22,9 nghìn tỷ won, 19,1 nghìn tỷ won cho hệ thống đường sắt và 10,6 nghìn tỷ won cho viễn thông.
Chính phủ của ông Moon hiện đang gây áp lực lên các công ty Hàn Quốc để đầu tư trong nhiều dự án của 2 nước, từ xây dựng, năng lượng đến viễn thông và du lịch.
Trong suốt bài nói chuyện vào tháng trước, ông Moon và Kim đã đồng ý khôi phục hoạt động của tổ hợp công nghiệp Kaesong – nằm ở biên giới phía bắc mà có hơn 100 công ty Hàn Quốc từng sử dụng để hoạt động và sử dụng tổng cộng hơn 50.000 lao động Triều Tiên. Khu công nghiệp này đã bị đóng cửa vào năm 2016 khi phía Triều Tiên có những biểu hiện kích động chiến tranh.
Việc khách du lịch Hàn Quốc đến khu nghỉ dưỡng núi Kumgang tại Triều Tiên cũng đã được khôi phục.
Dù có nhiều tín hiệu đáng mừng là vậy, nhưng trừ Phó chủ tịch Lee có bày tỏ những tín hiệu cởi mở thấy rõ thì những công ty lớn nhất tại Hàn Quốc vẫn chưa đưa ra kế hoạch đầu tư nào cả. Nguồn tin thân cận với Samsung nói rằng công ty cũng vẫn rất thận trọng về việc tới Triều Tiên.
"Samsung là trường hợp khác khi họ phải đối mặt với sự cạnh tanh từ các đối thủ Trung Quốc với sản phẩm tương tự ở mức giá rẻ hơn. Với Samsung, thời điểm này nên để lo cho những kế hoạch khác hơn là đầu tư vào Triều Tiên".
Các chuyên gia phân tích thì nói rằng khu công nghiệp Kaesong rất hấp dẫn với các công ty Hàn Quốc bởi chi phí thuê rẻ, lao động rẻ và lại sẵn nguồn lao động cùng nói tiếng Hàn dồi dào. Hana nói rằng mức lương tối thiểu hàng tháng cho công nhân nhà máy tại đây vào năm 2014 chỉ là 63,8 USD, thấp hơn mức 95,8 USD tại TP Hồ Chí Minh, Việt Nam và 194 USD tại Trung Quốc. Ở khu Ansan ở Hàn Quốc, con số này thậm chí còn lên tới 800 USD.
"Với Samsung Electronics, Triều Tiên là ứng cử viên hoàn hảo để đặt dây chuyền nhà máy bởi chi phí nhân công rẻ, không có rào cản ngôn ngữ và có cùng múi giờ. Triều Tiên có thể đóng vai trò sản xuất chính tại châu Á trong hệ thống kinh tế toàn cầu", theo You Seung-min – Chiến lược gia trưởng tại Samsung Securities nói.
Đặc biệt, ông You còn cho biết thêm rằng Triều Tiên có thể thay thế Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất chính đối với các sản phẩm gồm điện thoại thông minh và màn hình.
SK và Hyundai cũng tỏ ra khá lạc quan. "Có nhiều cơ hội ở Triều Tiên", chủ tịch tập đoàn SK Chey Tae-won nói.
Hyundai cũng đã cam kết khởi đầu lại những tour du lịch tới núi Kumgang và khởi công những dự án khác tại Bình Nhưỡng. "Bình nhưỡng – nơi tôi từng ghé thăm 7 năm trước đã thay đổi rất nhiều và tôi chẳng thể nhận ra nó. Tôi biết có nhiều rào cản cần vượt qua nhưng tôi cảm thấy tràn đầy hy vọng ở phía trước", Chủ tịch Hyundai Hyun Jeong-eun nói.
Trong khi đó, phía LG thì tỏ ra thận trọng hơn. Công ty này từng có một dây chuyền lắp ráp tivi tại Triều Tiên nhưng sau đó đã rút khỏi đây vào năm 2009 vì cấm vận. Hiện họ cũng tỏ ý cân nhắc về tiềm năng của Triều Tiên nhưng chưa đưa ra kế hoạch gì cụ thể.
Một nguồn tin thân cận với Lotte thì nói rằng công ty cũng nhận thấy các cơ hội tại Triều Tiên về lĩnh vực khách sạn, xây dựng, thực phẩm và bán lẻ nhưng rủi ro cũng rất nhiều. "Lotte muốn chắc chắn rằng các nhà chức trách Triều Tiên đảm bảo họ có thể mang lợi nhuận và các khoản đầu tư về".
Nhìn chung, mấu chốt vấn đề vẫn là các cấm vận phải được dỡ bỏ. Khi ấy, bất kỳ kế hoạch kinh doanh nào tại Triều Tiên cũng sẽ có cơ hội rộng mở để thực hiện.
Xuất khẩu hàng năm từ Triều Tiên tăng từ mức 2,3 tỷ USD trong năm 2001 lên mức kỷ lục 7,6 tỷ USD trong năm 2014 theo số liệu của Bank of Korea. Tuy nhiên, con số này giảm xuống còn 5,6 tỷ USD vào năm 2017 khi cộng đồng quốc tế thắt chặt các lệnh cấm vấn do những lo ngại về việc thử tên lửa hạt nhân.
Nguồn: GenK
0
Người thừa kế tập đoàn Samsung đã gây chú ý trong chuyến thăm đầu tiên của ông tới thủ đô Bình Nhưỡng, Triều Tiên vào tháng trước.
Trong hành trình cùng phái đoàn gồm 200 thành viên từ Hàn Quốc sang Triều Tiên cùng Tổng thống Moon Jae-in, Phó chủ tịch Samsung Electronics Lee Jae-yong nhìn thấy một tấm biển quảng cáo gần nhà ga Bình Nhưỡng có dòng chứ "Khoa học là trên hết, Nhân tài là trên hết".
Những từ này gần như giống hoàn toàn với triết lý quản lý của Samsung: "Công nghệ là trên hết, Tài năng là trên hết".
"Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một thứ như vậy ở bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới", ông Lee tỏ ra đầy bất ngờ khi nói chuyện với Phó thủ tướng Triều Tiên Ri Ryong Nam trong cuộc họp vào ngày 18/9. "Vốn có tồn tại mối băn khoăn trong tâm trí nhưng hiện tại tôi cảm thấy chúng ta như là cùng một quốc gia vậy".
Những nhà lãnh đạo các tập đoàn khác cùng tham dự chuyến thăm này đã quay về với cùng những tín hiệu tích cực về tiềm năng khởi động kinh doanh tại Triều Tiên. Tuy nhiên, họ cũng được cảnh báo về những rủi ro và khó khăn.
Cấm vận từ UN và một số quốc gia gồm Mỹ và Hàn Quốc đối với Triều Tiên vẫn đang được tiến hành. Điều đó có nghĩa là các tập đoàn như Samsung, Lotte, SK, LG và Hyundai đều không thể hoạt động tại đây. Cũng có nhiều câu hỏi được đặt ra là liệu mối quan hệ ngoại giao tốt đẹp này có thể kéo dài được bao lâu và ông Kim Jong Un có nghiêm túc với những khoản đầu tư từ nước ngoài hay không.
Tuy nhiên, ít nhất phía Tổng thống Moon và nhà lãnh đạo Kim đang vẽ ra những kế hoạch. Và họ nói rằng muốn những chaebol nổi tiếng của Hàn Quốc tham gia vào kế hoạch đó.
Trong thời gian ông Lee ở Bình Nhưỡng, nhà lãnh đạo 2 nước đã đồng ý phát triển nền kinh tế Triều Tiên, viết bản hòa ước xây dựng đường tàu và những con đường dọc bờ biển 2 quốc gia. Các nhà chức trách 2 bên cũng đồng ý vào hôm thứ 2 tại buổi họp ở ngôi làng đình chiến Panmunjom về việc chuẩn bị khởi công những dự án cơ sở hạ tầng vào cuối năm nay.
Kế hoạch là vậy nhưng có một câu hỏi lớn là: Tiền.
Hana Financial Investment – một công ty môi giới Hàn Quốc nói rằng kế hoạch đó có thể trị giá 38,1 nghìn tỷ won (tương đương 33,3 tỷ USD) để xây dựng hệ thống xe lửa tới Triều Tiên. Trong khi đó phía Societe Generale thì ước đoán mức giá cho những con đường trong kế hoạch kể trên vào khoảng 22,9 nghìn tỷ won, 19,1 nghìn tỷ won cho hệ thống đường sắt và 10,6 nghìn tỷ won cho viễn thông.
Chính phủ của ông Moon hiện đang gây áp lực lên các công ty Hàn Quốc để đầu tư trong nhiều dự án của 2 nước, từ xây dựng, năng lượng đến viễn thông và du lịch.
Trong suốt bài nói chuyện vào tháng trước, ông Moon và Kim đã đồng ý khôi phục hoạt động của tổ hợp công nghiệp Kaesong – nằm ở biên giới phía bắc mà có hơn 100 công ty Hàn Quốc từng sử dụng để hoạt động và sử dụng tổng cộng hơn 50.000 lao động Triều Tiên. Khu công nghiệp này đã bị đóng cửa vào năm 2016 khi phía Triều Tiên có những biểu hiện kích động chiến tranh.
Việc khách du lịch Hàn Quốc đến khu nghỉ dưỡng núi Kumgang tại Triều Tiên cũng đã được khôi phục.
Dù có nhiều tín hiệu đáng mừng là vậy, nhưng trừ Phó chủ tịch Lee có bày tỏ những tín hiệu cởi mở thấy rõ thì những công ty lớn nhất tại Hàn Quốc vẫn chưa đưa ra kế hoạch đầu tư nào cả. Nguồn tin thân cận với Samsung nói rằng công ty cũng vẫn rất thận trọng về việc tới Triều Tiên.
"Samsung là trường hợp khác khi họ phải đối mặt với sự cạnh tanh từ các đối thủ Trung Quốc với sản phẩm tương tự ở mức giá rẻ hơn. Với Samsung, thời điểm này nên để lo cho những kế hoạch khác hơn là đầu tư vào Triều Tiên".
Các chuyên gia phân tích thì nói rằng khu công nghiệp Kaesong rất hấp dẫn với các công ty Hàn Quốc bởi chi phí thuê rẻ, lao động rẻ và lại sẵn nguồn lao động cùng nói tiếng Hàn dồi dào. Hana nói rằng mức lương tối thiểu hàng tháng cho công nhân nhà máy tại đây vào năm 2014 chỉ là 63,8 USD, thấp hơn mức 95,8 USD tại TP Hồ Chí Minh, Việt Nam và 194 USD tại Trung Quốc. Ở khu Ansan ở Hàn Quốc, con số này thậm chí còn lên tới 800 USD.
"Với Samsung Electronics, Triều Tiên là ứng cử viên hoàn hảo để đặt dây chuyền nhà máy bởi chi phí nhân công rẻ, không có rào cản ngôn ngữ và có cùng múi giờ. Triều Tiên có thể đóng vai trò sản xuất chính tại châu Á trong hệ thống kinh tế toàn cầu", theo You Seung-min – Chiến lược gia trưởng tại Samsung Securities nói.
Đặc biệt, ông You còn cho biết thêm rằng Triều Tiên có thể thay thế Việt Nam trở thành trung tâm sản xuất chính đối với các sản phẩm gồm điện thoại thông minh và màn hình.
SK và Hyundai cũng tỏ ra khá lạc quan. "Có nhiều cơ hội ở Triều Tiên", chủ tịch tập đoàn SK Chey Tae-won nói.
Hyundai cũng đã cam kết khởi đầu lại những tour du lịch tới núi Kumgang và khởi công những dự án khác tại Bình Nhưỡng. "Bình nhưỡng – nơi tôi từng ghé thăm 7 năm trước đã thay đổi rất nhiều và tôi chẳng thể nhận ra nó. Tôi biết có nhiều rào cản cần vượt qua nhưng tôi cảm thấy tràn đầy hy vọng ở phía trước", Chủ tịch Hyundai Hyun Jeong-eun nói.
Trong khi đó, phía LG thì tỏ ra thận trọng hơn. Công ty này từng có một dây chuyền lắp ráp tivi tại Triều Tiên nhưng sau đó đã rút khỏi đây vào năm 2009 vì cấm vận. Hiện họ cũng tỏ ý cân nhắc về tiềm năng của Triều Tiên nhưng chưa đưa ra kế hoạch gì cụ thể.
Một nguồn tin thân cận với Lotte thì nói rằng công ty cũng nhận thấy các cơ hội tại Triều Tiên về lĩnh vực khách sạn, xây dựng, thực phẩm và bán lẻ nhưng rủi ro cũng rất nhiều. "Lotte muốn chắc chắn rằng các nhà chức trách Triều Tiên đảm bảo họ có thể mang lợi nhuận và các khoản đầu tư về".
Nhìn chung, mấu chốt vấn đề vẫn là các cấm vận phải được dỡ bỏ. Khi ấy, bất kỳ kế hoạch kinh doanh nào tại Triều Tiên cũng sẽ có cơ hội rộng mở để thực hiện.
Xuất khẩu hàng năm từ Triều Tiên tăng từ mức 2,3 tỷ USD trong năm 2001 lên mức kỷ lục 7,6 tỷ USD trong năm 2014 theo số liệu của Bank of Korea. Tuy nhiên, con số này giảm xuống còn 5,6 tỷ USD vào năm 2017 khi cộng đồng quốc tế thắt chặt các lệnh cấm vấn do những lo ngại về việc thử tên lửa hạt nhân.
Nguồn: GenK
Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2018
Trung Quốc sẽ làm suy yếu nền kinh tế toàn cầu
Trên thực tế, Trung Quốc đã không thoát khỏi sự sụp đổ năm 2008. Họ chỉ trì hoãn nó – cho đến hiện nay. Do đó, dường như Bắc Kinh đang làm suy yếu nền kinh tế toàn cầu một lần nữa. Lần nay, nạn nhân lớn nhất sẽ là Trung Quốc.
Bắc Kinh sẵn sàng đẩy thế giới vào một cuộc suy thoái khác.
Nền kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, tiền tệ và các thị trường của nước này, phản ánh tình trạng bất ổn, đang xáo trộn. Tập Cận Bình không có giải pháp nào. Điều duy nhất ông đang làm là gánh thêm nợ nần.
Đó là điều cực kỳ đáng tiếc vì một Bắc Kinh mắc nợ quá nhiều một lần nữa bắt đầu đẩy thế giới vào suy thoái. Thông qua các chính sách trục lợi, Trung Quốc đã đẩy nhanh cuộc suy thoái toàn cầu vào thập kỷ trước, và dường như họ cũng sẽ gây ra cuộc suy thoái tiếp theo.
Lần trước, người Trung Quốc đã hưởng lợi rất lớn từ sự khốn khổ của toàn thế giới. Lần này, họ sẽ không may mắn như vậy và gần như chắc chắn sẽ trở thành những nạn nhân lớn nhất.
Nhìn bề ngoài, nền kinh tế của Trung Quốc trông có vẻ tốt đẹp. Ngày 16/7, Cục thống kê quốc gia báo cáo rằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã tăng 6,7% trong Quý II năm 2018, giảm từ mức 6,8% trong Quý I nhưng phù hợp với kỳ vọng.
Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc không phải là vấn đề, bất kể được báo cáo thế nào. Nước này có một vấn đề căn bản: họ đang nhanh chóng mắc nợ. Nước này đang chịu số nợ có thể gấp 1,5 lần GDP danh nghĩa họ tạo ra – nếu những số liệu GDP chính thức là chính xác.
Tuy nhiên, chúng lại không chính xác. Cục thống kê quốc gia đã báo cáo số liệu GDP ở mức ổn định, điều sẽ là cực kỳ bất thường trong một nền kinh tế hoàn thiện đầy đủ, chưa kể đến một nước đang phát triển như Trung Quốc.
Do đó, bề ngoài, những số liệu của Bắc Kinh là đáng ngờ. Lấy ví dụ năm 2016, Bắc Kinh tuyên bố đạt tỷ lệ tăng trưởng là 6,7%. Giữa năm 2017, Ngân hàng thế giới (WB), đã công bố một biểu đồ cho thấy vào năm 2016, GDP của Trung Quốc tăng 1,1%.
Con số 1,1%, vốn khiến nhiều người bất ngờ, phù hợp với tổng chỉ số chính xác duy nhất đánh giá hoạt động kinh tế của Trung Quốc, tổng lượng tiêu thụ năng lượng chính. Theo các số liệu chính thức, vào năm 2016, tổng lượng tiêu thụ năng lượng chính tăng 1,4%.
Năm 2017, nền kinh tế đã tăng tốc – tiêu thụ năng lượng tăng lên 2,9% - nhưng GDP không thể tăng trưởng ở mức đã công bố là 6,9%.
Mức tăng trưởng thấp làm nổi bật vấn đề dai dẳng của Bắc Kinh: không nền kinh tế nào có thể tiếp tục vô hạn định tạo ra nợ nhanh hơn tạo ra GDP, đặc biệt với tốc độ của Trung Quốc. Ở một thời điểm nào đó, như các nhà kinh tế học sẽ nói, phải có một sự “điều chỉnh”, và một “cuộc khủng hoảng” như phần còn lại trong số chúng ta sẽ mô tả nó. Hơn nữa, sự điều chỉnh, hay cuộc khủng hoảng, phải thật lớn vì nó đã bị trì hoãn quá lâu. Bắc Kinh đã trì hoãn những sự điều chỉnh kể từ cuộc suy thoái năm 2008 có lẽ là với thời kỳ cho vay-chi tiêu lớn nhất trong lịch sử. Trong 5 năm bắt đầu vào năm 2009, các ngân hàng của Trung Quốc đã mở rộng nhiều khoản tín dụng gần tương đương với số tín dụng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng của Mỹ, mặc dù vào cuối năm 2008, nền kinh tế Trung Quốc chưa bằng 1/3 quy mô nền kinh tế Mỹ. Hoạt động này tiếp tục diễn ra kể từ cuối nửa thập kỷ đó.
Kết quả là nền kinh tế Trung Quốc trở nên mất cân bằng, những sự mất cân bằng đó trở nên có tính đe dọa, và đất nước này đã tích lũy số nợ đáng kể. Theo Bloomberg, năm 2008, tỷ lệ nợ so với GDP của Trung Quốc, một thước đo tiêu chuẩn cho tính bền vững của nợ, là 141%. Con số đó vốn đã gây lo ngại, nhưng tình hình còn nhanh chóng trở nên xấu đi kể từ đó. Bloomberg cho biết tỷ lệ này đã tăng vọt lên đến 256% vào giữa năm 2017.
Con số này chắc chắn còn cao hơn, đặc biệt là khi tính đến cái gọi là “nợ bí mật” trong hệ thống “ngân hàng ngầm”. Andrew Collier đến từ Trung tâm nghiên cứu Orient Capital có trụ sở tại Hong Kong nói rằng các ngân hàng ngầm quản lý “gần một nửa tổng số tiền ở Trung Quốc”. Tính đến tất cả các khoản nợ này, Collier tin rằng tỷ lệ nợ so với GDP của nước này là khoảng 400%. Một tỷ lệ phần trăm kiểu như vậy cho thấy gánh nặng nợ nần của nước này là vô cùng nặng nề.
Món nợ nặng nề của Trung Quốc là một trở ngại cho tăng trưởng, đặc biệt là vì nhiều khoản đầu tư được thực hiện với những khoản vay này không có hiệu quả. Một số không hiệu quả vì chúng bị hiểu sai hoàn toàn và sẽ vẫn như vậy hoặc vì chúng sẽ chỉ có hiệu quả trong tương lai. Dù thế nào, những khoản đầu tư đó cũng gây ra một vấn đề của hiện tại. Các nhà kỹ trị Trung Quốc có thể làm nhiều điều, nhưng như Fraser Howie, đồng tác giả của cuốn sách “Chủ nghĩa tư bản đỏ: Nền tảng tài chính mong manh của sự trỗi dậy phi thường của Trung Quốc”, nói với tác giả vào tháng 6: “Điều họ không thể làm là biến những khoản đầu tư ngu ngốc trở thành tốt đẹp”.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tìm cách loại bỏ những vấn đề này bằng cách mắc thêm nợ. Thủ thuật đó đã có tác dụng vào cuối những năm 1990, nhưng khối nợ tích lũy giờ đây trở nên nặng nề đến mức làm chậm tăng trưởng và làm lung lay niềm tin.
Trong số những điều khác, những quan ngại về kinh tế đã dẫn đến tình trạng thoái vốn ồ ạt vào năm 2015 và năm 2016, khi theo những ước tính chính xác nhất, dòng chảy vốn ròng ra ngoài vượt mức 2000 tỷ USD. Bắc Kinh đã ngăn chặn dòng chảy ra ngoài, nhưng chỉ bằng những biện pháp kiểm soát vốn hà khắc, chỉ một vài trong số đó được công bố chính thức.
Bất chấp thành công trong việc ngăn dòng vốn chảy ra ngoài, vẫn còn những mối lo ngại. Tháng 10/2017, Chu Tiểu Xuân, khi vẫn là người đứng đầu Ngân hàng nhân dân Trung Quốc, công khai nêu lên khả năng rằng Trung Quốc sẽ gánh chịu “thời điểm Minsky”, thời điểm mà các giá trị tài sản sụp đổ. Đây cũng là nỗi lo lắng của người dân Trung Quốc, những người rõ ràng nghĩ rằng điều gì đó tồi tệ đang đến. Hết khảo sát này đến khảo sát khác cho thấy 1/3 đến 1/2 người giàu Trung Quốc lên kế hoạch rời khỏi đất nước của họ trong trung hạn.
Như những bình luận khác thường của Chu Tiểu Xuân chỉ ra, tình hình của Bắc Kinh vẫn nghiêm trọng. Michael Pettis đến từ Đại học Bắc Kinh đã chỉ ra trong các bình luận tại Diễn đàn Thịnh vượng toàn cầu vào tháng 12/2017 rằng sự khác biệt giữa tình hình Trung Quốc hiện nay và các cuộc khủng hoảng nợ trước đây ở những nước khác là trong các cuộc khủng hoảng trước đó, những sự mất cân bằng về kinh tế không “sâu sắc” và nợ không ở mức “cao” như vậy.
Trung Quốc có thể tránh được tình trạng mất cân bằng và nợ nần lâu hơn các nước khác. Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ mọi thứ từ người đi vay, người cho vay, các thị trường đến tòa án. Tuy nhiên, nền kinh tế không thể tránh khỏi thời điểm then chốt đó khi một sự điều chỉnh diễn ra.
Tại sao? Donald Trump xuất hiện. Cho dù người ta nghĩ Tổng thống Trump bắt đầu một cuộc chiến tranh thương mại hay chỉ phản ứng với cuộc chiến mà Trung Quốc khởi xướng – tác giả bỏ phiếu cho cách hiểu thứ hai – thì ông cũng đang thực hiện những hành động tấn công nền kinh tế Trung Quốc và làm lung lay niềm tin.
Sau một làn sóng mạnh mẽ ban đầu do hoạt động tuyên truyền tạo ra, các học giả và nhà phân tích Trung Quốc đang bắt đầu hiểu ra rằng “chiến tranh thương mại” là một cuộc tranh đấu lâu dài mà đất nước họ không thể duy trì.
Tại sao? Trump nói về các khoản thâm hụt thương mại, nhưng những hành động của chính quyền ông lại tập trung vào công nghệ. Một cuộc cạnh tranh về công nghệ, hơn cả một cuộc chiến tranh thương mại, trông giống như một cuộc tranh đấu cho tương lai. Như Thomas Friedman của tờ New York Times đã viết vào đầu tháng 5, đây không phải cuộc chiến về các loại thuế hay thậm chí là về thương mại; đây là cuộc chiến cho tương lai. Kết luận của Friedman không phải là phân tích của riêng ông mà là những quan điểm từ các nguồn của Trung Quốc. Nhiều người ở Trung Quốc nhìn nhận điều này là, hoặc gần như là, một cuộc tranh đấu để tồn tại. Đúng lúc đó, người Mỹ cũng sẽ nhìn nhận giống như vậy.
Trong bất kỳ tình huống nào, những hành động của Trump cũng đang gây áp lực mạnh mẽ đối với nền kinh tế Trung Quốc. Anne Stevenson-Yang, đồng sáng lập Trung tâm nghiên cứu J Capital có trụ sở tại Bắc Kinh, nói với tờ National Interest: “Tôi thực sự tin rằng quyết tâm của Trump cắt giảm lượng đồng USD đang lưu thông sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng cho Trung Quốc, như anh có thể thấy từ lợi suất trái phiếu hiện nay, thị trường chứng khoán A-share (cổ phiếu niêm yết trên sàn Thượng Hải và sàn Thâm Quyến, định giá bằng đồng nhân dân tệ - ND), và giá trị đồng nhân dân tệ. Đây không phải là ý định của Trump mà là một tác động của việc tăng lãi suất, phần nào là chức năng của việc cắt giảm thuế, vì việc vay quá nhiều tiền làm tăng lãi suất, cộng thêm vào điều hẳn sẽ là một sự suy giảm trong thương mại của Mỹ. Lý do giải thích tại sao điều này có thể châm ngòi cho cuộc khủng hoảng nợ đã được dự đoán từ lâu là nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào doanh thu bằng đồng USD để hỗ trợ cho việc mở rộng cung ứng tiền tệ. Không có nó, họ chỉ có thể in thêm tiền, và điều đó gây ra lạm phát”.
Các nhà kỹ trị Trung Quốc có thể đang tiếp cận đến những giới hạn xa hơn của những gì họ có thể in ra để duy trì hoạt động nền kinh tế. Cuối năm 2017, M2 của Trung Quốc, thước đo tiền tệ lưu hành rộng lớn (gồm tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm – ND) đã lên đến 25.980 tỷ USD, chiếm 202,3% GDP năm 2017. Trong khi đó, M2 của Mỹ vào thời điểm đó là 13.820 tỷ USD, chỉ bằng 71,8% GDP.
Trump đang cắt giảm dòng chảy tiền tệ ngay khi Bắc Kinh cần nó nhất. Trong vài tuần gần đây, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc, một ngân hàng thuộc trung ương, đã vội vàng bổ sung thêm tiền mặt. Như Collier nói với tờ The National Interest, nhìn chung các quan chức Trung Quốc nghĩ rằng tình trạng siết chặt gần đây đã đi quá xa và họ cũng đã tìm cách “đối phó với tác động của một cuộc chiến tranh thương mại đối với nền kinh tế”.
Và Trung Quốc, một nước có thặng dư thương mại, đặc biệt dễ bị tổn thương trước một cuộc chiến tranh thương mại. Ngân hàng thế giới ước tính rằng xuất khẩu chiếm 19,8% GDP năm 2017 của Trung Quốc.
Collier không mong đợi một cuộc khủng hoảng tài chính của Trung Quốc, nhưng động thái trong ngắn hạn là bổ sung tín dụng sẽ dẫn đến việc có “thêm các dự án tồi tệ” và do đó là “một nền kinh tế cơ sở yếu kém hơn”.
Bắc Kinh đang trong tình thế khó khăn. Việc bổ sung tín dụng sẽ kích thích nền kinh tế và kiềm chế làn sóng vỡ nợ trái phiếu đang diễn ra. Tuy nhiên, thêm tín dụng sẽ làm suy yếu đồng nhân dân tệ, vốn đã giảm 3,25% so với USD vào tháng 6 và đang tiếp tục sụt giảm. Đồng nhân dân tệ yếu kém hơn dẫn đến dòng vốn chảy ra ngoài.
Đồng thời, Ngân hàng dự trữ liên bang đang tăng lãi suất. Mức lãi suất cao hơn của Mỹ có xu hướng dẫn đến dòng tiền ra khỏi Trung Quốc và vào Mỹ. Đầm lầy mà Trump đang rút cạn chính là Trung Quốc.
Và những hành động của Trump trong lĩnh vực thương mại, cùng với phản ứng của Bắc Kinh, sẽ dẫn đến suy giảm xuất khẩu, do đó sụt giảm lợi nhuận từ xuất khẩu.
Như Stevenson-Yang nói với tác giả, chẳng bao lâu nữa, Bắc Kinh sẽ ở vào vị trí mà họ có thể không có khả năng kiềm chế tình hình. Trong những tháng gần đây, họ đã bảo vệ tiền tệ của mình bằng cách bán đồng USD, và Trung Quốc có lượng dự trữ lớn. Tuy nhiên, số tiền dự trữ đó – chính thức công bố là 3.110 tỷ USD vào cuối tháng 6 – chắc chắn không lớn hay có tính luân chuyển như đã được khẳng định, do đó rốt cuộc chúng có thể tỏ ra không đủ lớn để ngăn chặn tình trạng hoảng loạn.
Bắc Kinh đã kiềm chế được tình hình vào năm 2008. Họ đã kích thích nền kinh tế để tránh một cuộc khủng hoảng do họ tạo ra. Nhiều người nói rằng quy định lỏng lẻo ở Mỹ đã dẫn đến suy thoái toàn cầu, nhưng những người có óc tò mò có thể muốn hỏi lý do tại sao quy định lại thất bại ở một đất nước vốn được biết đến là có hệ thống quy định chặt chẽ.
Câu trả lời là quy định của Mỹ - và các nhà lập pháp - bị lấn át bởi xu hướng thanh khoản toàn cầu. Xu hướng đó là kết quả trực tiếp của việc Trung Quốc, thông qua các chính sách trọng thương, tích lũy thặng dư thương mại và thông qua các chính sách khác giữ phần lớn số tiền mặt có được nhờ đó khỏi tay của người dân Trung Quốc.
Bắc Kinh đã đầu tư những khoản thặng dư đó vào khoản nợ của Mỹ, và do đó, thanh khoản đã tràn ngập Mỹ. Giống như ở Trung Quốc hiện nay, quá nhiều khả năng thanh khoản trở thành các khoản đầu tư không hiệu quả. Trong một giai đoạn “sôi nổi vô lý” – thuật ngữ được cựu Chủ tịch Ngân hàng dự trữ liên bang Alan Greenspan phổ cập – hầu hết tất cả mọi người đều trở nên choáng váng, giống như các nhà đầu tư đã từng trải qua vào những năm 1920.
Mỹ là nước đầu tiên chịu thiệt hại trong cuộc đại suy thoái gần đây nhất. Trong cuộc suy thoái tiếp theo, sẽ đến lượt Trung Quốc. Sau một thập kỷ với các khoản đầu tư yếu kém và kích thích quá mức, Bắc Kinh sẽ không thể né tránh khủng hoảng.
Trên thực tế, Trung Quốc đã không thoát khỏi sự sụp đổ năm 2008. Họ chỉ trì hoãn nó – cho đến hiện nay.
Do đó, dường như Bắc Kinh đang làm suy yếu nền kinh tế toàn cầu một lần nữa. Lần nay, nạn nhân lớn nhất sẽ là Trung Quốc.
Gordon G. Chang là tác giả cuốn “Trung Quốc sắp sụp đổ”. Bài viết được đăng trên The National Interest.
Văn Cường (gt)
0
Bắc Kinh sẵn sàng đẩy thế giới vào một cuộc suy thoái khác.
Nền kinh tế Trung Quốc đang gặp khó khăn, tiền tệ và các thị trường của nước này, phản ánh tình trạng bất ổn, đang xáo trộn. Tập Cận Bình không có giải pháp nào. Điều duy nhất ông đang làm là gánh thêm nợ nần.
Đó là điều cực kỳ đáng tiếc vì một Bắc Kinh mắc nợ quá nhiều một lần nữa bắt đầu đẩy thế giới vào suy thoái. Thông qua các chính sách trục lợi, Trung Quốc đã đẩy nhanh cuộc suy thoái toàn cầu vào thập kỷ trước, và dường như họ cũng sẽ gây ra cuộc suy thoái tiếp theo.
Lần trước, người Trung Quốc đã hưởng lợi rất lớn từ sự khốn khổ của toàn thế giới. Lần này, họ sẽ không may mắn như vậy và gần như chắc chắn sẽ trở thành những nạn nhân lớn nhất.
Nhìn bề ngoài, nền kinh tế của Trung Quốc trông có vẻ tốt đẹp. Ngày 16/7, Cục thống kê quốc gia báo cáo rằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã tăng 6,7% trong Quý II năm 2018, giảm từ mức 6,8% trong Quý I nhưng phù hợp với kỳ vọng.
Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng của Trung Quốc không phải là vấn đề, bất kể được báo cáo thế nào. Nước này có một vấn đề căn bản: họ đang nhanh chóng mắc nợ. Nước này đang chịu số nợ có thể gấp 1,5 lần GDP danh nghĩa họ tạo ra – nếu những số liệu GDP chính thức là chính xác.
Tuy nhiên, chúng lại không chính xác. Cục thống kê quốc gia đã báo cáo số liệu GDP ở mức ổn định, điều sẽ là cực kỳ bất thường trong một nền kinh tế hoàn thiện đầy đủ, chưa kể đến một nước đang phát triển như Trung Quốc.
Do đó, bề ngoài, những số liệu của Bắc Kinh là đáng ngờ. Lấy ví dụ năm 2016, Bắc Kinh tuyên bố đạt tỷ lệ tăng trưởng là 6,7%. Giữa năm 2017, Ngân hàng thế giới (WB), đã công bố một biểu đồ cho thấy vào năm 2016, GDP của Trung Quốc tăng 1,1%.
Con số 1,1%, vốn khiến nhiều người bất ngờ, phù hợp với tổng chỉ số chính xác duy nhất đánh giá hoạt động kinh tế của Trung Quốc, tổng lượng tiêu thụ năng lượng chính. Theo các số liệu chính thức, vào năm 2016, tổng lượng tiêu thụ năng lượng chính tăng 1,4%.
Năm 2017, nền kinh tế đã tăng tốc – tiêu thụ năng lượng tăng lên 2,9% - nhưng GDP không thể tăng trưởng ở mức đã công bố là 6,9%.
Mức tăng trưởng thấp làm nổi bật vấn đề dai dẳng của Bắc Kinh: không nền kinh tế nào có thể tiếp tục vô hạn định tạo ra nợ nhanh hơn tạo ra GDP, đặc biệt với tốc độ của Trung Quốc. Ở một thời điểm nào đó, như các nhà kinh tế học sẽ nói, phải có một sự “điều chỉnh”, và một “cuộc khủng hoảng” như phần còn lại trong số chúng ta sẽ mô tả nó. Hơn nữa, sự điều chỉnh, hay cuộc khủng hoảng, phải thật lớn vì nó đã bị trì hoãn quá lâu. Bắc Kinh đã trì hoãn những sự điều chỉnh kể từ cuộc suy thoái năm 2008 có lẽ là với thời kỳ cho vay-chi tiêu lớn nhất trong lịch sử. Trong 5 năm bắt đầu vào năm 2009, các ngân hàng của Trung Quốc đã mở rộng nhiều khoản tín dụng gần tương đương với số tín dụng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng của Mỹ, mặc dù vào cuối năm 2008, nền kinh tế Trung Quốc chưa bằng 1/3 quy mô nền kinh tế Mỹ. Hoạt động này tiếp tục diễn ra kể từ cuối nửa thập kỷ đó.
Kết quả là nền kinh tế Trung Quốc trở nên mất cân bằng, những sự mất cân bằng đó trở nên có tính đe dọa, và đất nước này đã tích lũy số nợ đáng kể. Theo Bloomberg, năm 2008, tỷ lệ nợ so với GDP của Trung Quốc, một thước đo tiêu chuẩn cho tính bền vững của nợ, là 141%. Con số đó vốn đã gây lo ngại, nhưng tình hình còn nhanh chóng trở nên xấu đi kể từ đó. Bloomberg cho biết tỷ lệ này đã tăng vọt lên đến 256% vào giữa năm 2017.
Con số này chắc chắn còn cao hơn, đặc biệt là khi tính đến cái gọi là “nợ bí mật” trong hệ thống “ngân hàng ngầm”. Andrew Collier đến từ Trung tâm nghiên cứu Orient Capital có trụ sở tại Hong Kong nói rằng các ngân hàng ngầm quản lý “gần một nửa tổng số tiền ở Trung Quốc”. Tính đến tất cả các khoản nợ này, Collier tin rằng tỷ lệ nợ so với GDP của nước này là khoảng 400%. Một tỷ lệ phần trăm kiểu như vậy cho thấy gánh nặng nợ nần của nước này là vô cùng nặng nề.
Món nợ nặng nề của Trung Quốc là một trở ngại cho tăng trưởng, đặc biệt là vì nhiều khoản đầu tư được thực hiện với những khoản vay này không có hiệu quả. Một số không hiệu quả vì chúng bị hiểu sai hoàn toàn và sẽ vẫn như vậy hoặc vì chúng sẽ chỉ có hiệu quả trong tương lai. Dù thế nào, những khoản đầu tư đó cũng gây ra một vấn đề của hiện tại. Các nhà kỹ trị Trung Quốc có thể làm nhiều điều, nhưng như Fraser Howie, đồng tác giả của cuốn sách “Chủ nghĩa tư bản đỏ: Nền tảng tài chính mong manh của sự trỗi dậy phi thường của Trung Quốc”, nói với tác giả vào tháng 6: “Điều họ không thể làm là biến những khoản đầu tư ngu ngốc trở thành tốt đẹp”.
Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tìm cách loại bỏ những vấn đề này bằng cách mắc thêm nợ. Thủ thuật đó đã có tác dụng vào cuối những năm 1990, nhưng khối nợ tích lũy giờ đây trở nên nặng nề đến mức làm chậm tăng trưởng và làm lung lay niềm tin.
Trong số những điều khác, những quan ngại về kinh tế đã dẫn đến tình trạng thoái vốn ồ ạt vào năm 2015 và năm 2016, khi theo những ước tính chính xác nhất, dòng chảy vốn ròng ra ngoài vượt mức 2000 tỷ USD. Bắc Kinh đã ngăn chặn dòng chảy ra ngoài, nhưng chỉ bằng những biện pháp kiểm soát vốn hà khắc, chỉ một vài trong số đó được công bố chính thức.
Bất chấp thành công trong việc ngăn dòng vốn chảy ra ngoài, vẫn còn những mối lo ngại. Tháng 10/2017, Chu Tiểu Xuân, khi vẫn là người đứng đầu Ngân hàng nhân dân Trung Quốc, công khai nêu lên khả năng rằng Trung Quốc sẽ gánh chịu “thời điểm Minsky”, thời điểm mà các giá trị tài sản sụp đổ. Đây cũng là nỗi lo lắng của người dân Trung Quốc, những người rõ ràng nghĩ rằng điều gì đó tồi tệ đang đến. Hết khảo sát này đến khảo sát khác cho thấy 1/3 đến 1/2 người giàu Trung Quốc lên kế hoạch rời khỏi đất nước của họ trong trung hạn.
Như những bình luận khác thường của Chu Tiểu Xuân chỉ ra, tình hình của Bắc Kinh vẫn nghiêm trọng. Michael Pettis đến từ Đại học Bắc Kinh đã chỉ ra trong các bình luận tại Diễn đàn Thịnh vượng toàn cầu vào tháng 12/2017 rằng sự khác biệt giữa tình hình Trung Quốc hiện nay và các cuộc khủng hoảng nợ trước đây ở những nước khác là trong các cuộc khủng hoảng trước đó, những sự mất cân bằng về kinh tế không “sâu sắc” và nợ không ở mức “cao” như vậy.
Trung Quốc có thể tránh được tình trạng mất cân bằng và nợ nần lâu hơn các nước khác. Bắc Kinh kiểm soát chặt chẽ mọi thứ từ người đi vay, người cho vay, các thị trường đến tòa án. Tuy nhiên, nền kinh tế không thể tránh khỏi thời điểm then chốt đó khi một sự điều chỉnh diễn ra.
Tại sao? Donald Trump xuất hiện. Cho dù người ta nghĩ Tổng thống Trump bắt đầu một cuộc chiến tranh thương mại hay chỉ phản ứng với cuộc chiến mà Trung Quốc khởi xướng – tác giả bỏ phiếu cho cách hiểu thứ hai – thì ông cũng đang thực hiện những hành động tấn công nền kinh tế Trung Quốc và làm lung lay niềm tin.
Sau một làn sóng mạnh mẽ ban đầu do hoạt động tuyên truyền tạo ra, các học giả và nhà phân tích Trung Quốc đang bắt đầu hiểu ra rằng “chiến tranh thương mại” là một cuộc tranh đấu lâu dài mà đất nước họ không thể duy trì.
Tại sao? Trump nói về các khoản thâm hụt thương mại, nhưng những hành động của chính quyền ông lại tập trung vào công nghệ. Một cuộc cạnh tranh về công nghệ, hơn cả một cuộc chiến tranh thương mại, trông giống như một cuộc tranh đấu cho tương lai. Như Thomas Friedman của tờ New York Times đã viết vào đầu tháng 5, đây không phải cuộc chiến về các loại thuế hay thậm chí là về thương mại; đây là cuộc chiến cho tương lai. Kết luận của Friedman không phải là phân tích của riêng ông mà là những quan điểm từ các nguồn của Trung Quốc. Nhiều người ở Trung Quốc nhìn nhận điều này là, hoặc gần như là, một cuộc tranh đấu để tồn tại. Đúng lúc đó, người Mỹ cũng sẽ nhìn nhận giống như vậy.
Trong bất kỳ tình huống nào, những hành động của Trump cũng đang gây áp lực mạnh mẽ đối với nền kinh tế Trung Quốc. Anne Stevenson-Yang, đồng sáng lập Trung tâm nghiên cứu J Capital có trụ sở tại Bắc Kinh, nói với tờ National Interest: “Tôi thực sự tin rằng quyết tâm của Trump cắt giảm lượng đồng USD đang lưu thông sẽ gây ra một cuộc khủng hoảng cho Trung Quốc, như anh có thể thấy từ lợi suất trái phiếu hiện nay, thị trường chứng khoán A-share (cổ phiếu niêm yết trên sàn Thượng Hải và sàn Thâm Quyến, định giá bằng đồng nhân dân tệ - ND), và giá trị đồng nhân dân tệ. Đây không phải là ý định của Trump mà là một tác động của việc tăng lãi suất, phần nào là chức năng của việc cắt giảm thuế, vì việc vay quá nhiều tiền làm tăng lãi suất, cộng thêm vào điều hẳn sẽ là một sự suy giảm trong thương mại của Mỹ. Lý do giải thích tại sao điều này có thể châm ngòi cho cuộc khủng hoảng nợ đã được dự đoán từ lâu là nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc nhiều vào doanh thu bằng đồng USD để hỗ trợ cho việc mở rộng cung ứng tiền tệ. Không có nó, họ chỉ có thể in thêm tiền, và điều đó gây ra lạm phát”.
Các nhà kỹ trị Trung Quốc có thể đang tiếp cận đến những giới hạn xa hơn của những gì họ có thể in ra để duy trì hoạt động nền kinh tế. Cuối năm 2017, M2 của Trung Quốc, thước đo tiền tệ lưu hành rộng lớn (gồm tiền mặt, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm – ND) đã lên đến 25.980 tỷ USD, chiếm 202,3% GDP năm 2017. Trong khi đó, M2 của Mỹ vào thời điểm đó là 13.820 tỷ USD, chỉ bằng 71,8% GDP.
Trump đang cắt giảm dòng chảy tiền tệ ngay khi Bắc Kinh cần nó nhất. Trong vài tuần gần đây, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc, một ngân hàng thuộc trung ương, đã vội vàng bổ sung thêm tiền mặt. Như Collier nói với tờ The National Interest, nhìn chung các quan chức Trung Quốc nghĩ rằng tình trạng siết chặt gần đây đã đi quá xa và họ cũng đã tìm cách “đối phó với tác động của một cuộc chiến tranh thương mại đối với nền kinh tế”.
Và Trung Quốc, một nước có thặng dư thương mại, đặc biệt dễ bị tổn thương trước một cuộc chiến tranh thương mại. Ngân hàng thế giới ước tính rằng xuất khẩu chiếm 19,8% GDP năm 2017 của Trung Quốc.
Collier không mong đợi một cuộc khủng hoảng tài chính của Trung Quốc, nhưng động thái trong ngắn hạn là bổ sung tín dụng sẽ dẫn đến việc có “thêm các dự án tồi tệ” và do đó là “một nền kinh tế cơ sở yếu kém hơn”.
Bắc Kinh đang trong tình thế khó khăn. Việc bổ sung tín dụng sẽ kích thích nền kinh tế và kiềm chế làn sóng vỡ nợ trái phiếu đang diễn ra. Tuy nhiên, thêm tín dụng sẽ làm suy yếu đồng nhân dân tệ, vốn đã giảm 3,25% so với USD vào tháng 6 và đang tiếp tục sụt giảm. Đồng nhân dân tệ yếu kém hơn dẫn đến dòng vốn chảy ra ngoài.
Đồng thời, Ngân hàng dự trữ liên bang đang tăng lãi suất. Mức lãi suất cao hơn của Mỹ có xu hướng dẫn đến dòng tiền ra khỏi Trung Quốc và vào Mỹ. Đầm lầy mà Trump đang rút cạn chính là Trung Quốc.
Và những hành động của Trump trong lĩnh vực thương mại, cùng với phản ứng của Bắc Kinh, sẽ dẫn đến suy giảm xuất khẩu, do đó sụt giảm lợi nhuận từ xuất khẩu.
Như Stevenson-Yang nói với tác giả, chẳng bao lâu nữa, Bắc Kinh sẽ ở vào vị trí mà họ có thể không có khả năng kiềm chế tình hình. Trong những tháng gần đây, họ đã bảo vệ tiền tệ của mình bằng cách bán đồng USD, và Trung Quốc có lượng dự trữ lớn. Tuy nhiên, số tiền dự trữ đó – chính thức công bố là 3.110 tỷ USD vào cuối tháng 6 – chắc chắn không lớn hay có tính luân chuyển như đã được khẳng định, do đó rốt cuộc chúng có thể tỏ ra không đủ lớn để ngăn chặn tình trạng hoảng loạn.
Bắc Kinh đã kiềm chế được tình hình vào năm 2008. Họ đã kích thích nền kinh tế để tránh một cuộc khủng hoảng do họ tạo ra. Nhiều người nói rằng quy định lỏng lẻo ở Mỹ đã dẫn đến suy thoái toàn cầu, nhưng những người có óc tò mò có thể muốn hỏi lý do tại sao quy định lại thất bại ở một đất nước vốn được biết đến là có hệ thống quy định chặt chẽ.
Câu trả lời là quy định của Mỹ - và các nhà lập pháp - bị lấn át bởi xu hướng thanh khoản toàn cầu. Xu hướng đó là kết quả trực tiếp của việc Trung Quốc, thông qua các chính sách trọng thương, tích lũy thặng dư thương mại và thông qua các chính sách khác giữ phần lớn số tiền mặt có được nhờ đó khỏi tay của người dân Trung Quốc.
Bắc Kinh đã đầu tư những khoản thặng dư đó vào khoản nợ của Mỹ, và do đó, thanh khoản đã tràn ngập Mỹ. Giống như ở Trung Quốc hiện nay, quá nhiều khả năng thanh khoản trở thành các khoản đầu tư không hiệu quả. Trong một giai đoạn “sôi nổi vô lý” – thuật ngữ được cựu Chủ tịch Ngân hàng dự trữ liên bang Alan Greenspan phổ cập – hầu hết tất cả mọi người đều trở nên choáng váng, giống như các nhà đầu tư đã từng trải qua vào những năm 1920.
Mỹ là nước đầu tiên chịu thiệt hại trong cuộc đại suy thoái gần đây nhất. Trong cuộc suy thoái tiếp theo, sẽ đến lượt Trung Quốc. Sau một thập kỷ với các khoản đầu tư yếu kém và kích thích quá mức, Bắc Kinh sẽ không thể né tránh khủng hoảng.
Trên thực tế, Trung Quốc đã không thoát khỏi sự sụp đổ năm 2008. Họ chỉ trì hoãn nó – cho đến hiện nay.
Do đó, dường như Bắc Kinh đang làm suy yếu nền kinh tế toàn cầu một lần nữa. Lần nay, nạn nhân lớn nhất sẽ là Trung Quốc.
Gordon G. Chang là tác giả cuốn “Trung Quốc sắp sụp đổ”. Bài viết được đăng trên The National Interest.
Văn Cường (gt)
Đăng trong:
Châu Á - Thái Bình Dương,
Kinh tế,
Tài liệu,
Thư viện Biển Đông,
Tin kinh tế,
Trung Quốc
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







